Hà Vũ Trọng dịch
“Hễ
khi nào chính pháp suy đồi
và
sự vô đạo hoành hành,
Ta
sẽ lại thị hiện dưới thế.
Ta
giáng sinh trong mọi thời đại
để
bảo vệ cái thiện, tiêu trừ cái ác,
và
để thiết lập lại chính pháp.”
(4:7-8)
*
Nội dung
1
Cuộc chiến nội thân
2
Chứng ngộ Chân Ngã
3
Phụng sự vô ngã
4
Hành động trí tuệ
5
Buông xả và hoan hỉ
6
Tu tập thiền định
7
Trí tuệ thực chứng
8
Thần tính vĩnh hằng
9
Vương đạo
10
Sự huy hoàng linh thánh
11
Khải thị vũ trụ
12
Đạo sùng ái
13
Cánh đồng và người biết
14
Những sức mạnh tiến hoá
15
Chân Ngã tối thượng
16
Hai con đường
17
Sức mạnh của đức tin
18 Tự do và buông xả
Chú
thích
Từ
vựng
*
CHÍ TÔN CA
Bhagavat Gita
CHƯƠNG 1
Cuộc chiến nội thân
Dhitarashtra
1Này Sanjaya, kể cho ta nghe điều gì xảy ra tại Kuruksetra, cánh đồng dharma (chánh pháp), nơi các con ta và các con của Pandu đã tập hợp để giao chiến?
Sanjaya
2Sau khi đã xem xét lực lượng của Pandava dàn binh bố trận, hoàng tử Duryodhana tới bên sư phụ Drona, và bẩm báo. 3Thưa thầy, hãy nhìn vào đạo quân hùng mạnh này của Pandava, đã được Yudhishthira, người môn đệ tài ba của thầy dàn trận. 4Ở đó có những chiến binh anh dũng và những cung thủ tinh nhuệ chẳng thua kém Bhima và Arjuna: Yuyudhana, Virata, và Drupada dũng mãnh. 5Dhrishtaketu, Chekitana, vị vua quả cảm Kashi, Purujit, Kuntibhoja, thủ lĩnh tài ba Shaibya, 6Yudhamanyu uy mãnh, Uttamaujas quả cảm, và con trai của Subhadra, và còn có các con của Draupadi. Tất cả họ đều chỉ huy những chiến xa hùng dũng.
7Thưa thầy là bậc anh minh nhất trong số những brahmin, xin nghe con nêu danh tính của những người kiệt xuất trong những lực lượng của chúng ta: 8Bhishma, Karna, và Kripa kẻ bách chiến bách thắng; Ashvatthama, Vikarna, và những con trai của Somadatta.
9Cũng còn có nhiều người khác nữa, những người anh dũng sẵn sàng liều mạng sống của họ vì con, tất cả họ đều thông thạo binh pháp và trang bị đủ loại khí giới. 10Quân của chúng ta đông vô hạn và do Bhisma thống lĩnh; còn quân số họ giới hạn và do Bhima thống lĩnh. 11Này, tất cả các vị hãy dàn quân chỉnh tề và giữ lệnh nghiêm để hỗ trợ Bhishma!’
12Lúc ấy tổ phụ Bhishma quyền uy, vị trưởng lão của tộc Kuru, rống tiếng như sư tử hống rồi rúc tù và ốc vang rền để cổ vũ Duryodhama. 13Và liền sau đó, rợp tiếng huyên náo dữ dội trổi lên của những tiếng tù và ốc, tù và sừng cùng những tiếng trống cái trống con. 14Khi ấy, Sri Krishna và Arjuna đang đứng trên chiến xa được thắng với những con bạch mã uy dũng, cũng rúc lên những hồi tù và thần thánh của mình. 15Sri Krishna thổi chiếc tù và có tên Panchajanya, còn Arjuna thổi chiếc tù và Devadatta. Bhima uy mãnh thổi chiếc tù và khổng lồ Paundra. 16Quốc vương Yudhishthira, con trai của Kunti, thổi chiếc tù và Anantavijaya; Nakula và Sahadeva cũng thổi chiếc tù và của họ. 17Vua xứ Kashi, cung thủ hàng đầu, chiến binh vĩ đại Shikhandi, Dhrishtadyumna, Virata, Satyaki kẻ vô địch, 18Drupada, tất cả con trai của Draupadi, và người con trai có cánh tay cường tráng của Subhadra cũng gia nhập, 19và rồi tiếng ầm ĩ đinh tai đó như xé tim gan quân đội của Duryodhana. Quả vậy, tất cả âm thanh kinh động đó khiến trời long đất lở.
20Khi ấy, muôn tâu Dhritarashtra bệ hạ, sau khi nhìn thấy lực lượng của các con trai của ngài đã dàn trận và cuộc giao chiến sắp bắt đầu, Arjuna đã thưa những lời này với Sri Krishna:
Arjuna
21Ôi Krishna, xin hãy đánh chiến xa của tôi vào chính giữa hai đạo quân. 22Tôi muốn nhìn thấy những người đang khao khát chiến đấu với tôi. Trận chiến này tôi sẽ giao đấu với những ai? 23Tôi muốn nhìn thấy những người tập hợp ở đây để chiến đấu cho Duryodhna, những người tìm cách làm vui lòng người con trai ác độc của Dhritarashtra bằng cách tham chiến.
Sanjaya
24Arjuna đã nói thế, và Sri Krishna lái chiếc chiến xa huy hoàng vào giữa hai đạo quân, khi giáp mặt Bhishma và Drona và các vua chúa của thế gian, rồi ngài nói: ‘Arjuna, hãy nhìn xem mọi người trong dòng tộc Kuru đã quần tụ.’ 26Và Arjuna, ở giữa hai đạo quân, đã nhìn thấy nào là những bậc cha, ông, sư phụ, chú bác, và anh em, con, cháu, 27phía sui gia và bạn hữu. Nhìn thấy thân bằng quyến thuộc của mình đã dàn hàng đối địch nhau. 28Arjuna tràn ngập nỗi thương xót. Tuyệt vọng, chàng thốt lên những lời này:
Arjuna
Hỡi Krishna, tôi nhìn thấy mọi người thân thuộc của mình ở đây đang nôn nóng giao tranh, 29chân tay tôi rã rời, miệng tôi khô khốc, thân tôi run rẩy, tóc tôi dựng đứng. 30Da tôi bỏng rát, và cây cung Gandiva tuột khỏi tay tôi. Tôi không thể nào đứng vững; tâm trí tôi như đang quay cuồng. 31Những dấu hiệu này báo điềm xấu cho chúng ta. Tôi không thấy điều tốt lành nào đến từ việc tàn sát người thân thuộc trong cuộc chiến. 32Ôi Krishna, tôi chẳng hề có ham muốn chiến thắng, vương quốc, hay lạc thú. Một vương quốc hay lạc thú hoặc ngay cả cuộc đời để làm gì, 33nếu những người mà vì họ chúng ta ham muốn những thứ đó – 34những vị thầy, cha, ông, chú bác, sui gia, con, cháu và những người có quan hệ gia tộc – đều đang dấn mình vào trận chiến này, và từ bỏ của cải lẫn mạng sống của họ? 35Ngay cả nếu họ có giết tôi, tôi cũng không muốn giết họ, thậm chí cũng không muốn đánh đổi để trở thành chúa tể của ba cõi thế, huống chi tới riêng cõi trần gian này? 36Ôi Krishna, liệu chúng ta có thấy hài lòng khi giết những người con của Dhritarashtra? Chúng ta hẳn sẽ trở nên tội đồ khi giết họ, mặc dù họ độc ác. 37Những người con của Dhritarashtra có họ hàng với chúng ta; vì thế, chúng ta sẽ không giết họ. Làm sao chúng ta có được hạnh phúc nếu sát hại người thân thích?
38Mặc dù họ bị lòng tham chế ngự và không nhìn thấy tội ác khi phá huỷ gia tộc hoặc phản bội bằng hữu, chúng ta nhìn thấy những điều ác này. 39Cớ sao chúng ta lại không tránh xa tội lỗi ấy? 40Khi một gia tộc suy đồi, những truyền thống ngàn đời cũng bị huỷ diệt. Khi đánh mất nền tảng tâm linh của đời sống thì gia tộc cũng đánh mất ý thức hợp nhất. 41Ở đâu không có ý thức hợp nhất, người phụ nữ trong gia tộc trở nên sa đoạ; và cùng với sự đa đoạ của người phụ nữ, xã hội đi vào hỗn loạn. 42Sự hỗn loạn xã hội là địa ngục cho gia tộc và cũng cho những người đã tàn phá gia tộc. Nó phá vỡ cái quá trình tiến hoá tâm linh vốn được tổ tiên của chúng ta gây dựng. 43Những nền tảng tâm linh vượt thời gian của gia tộc và xã hội sẽ bị phá huỷ bởi những hành động khủng khiếp này, vì vi phạm tới tính hợp nhất của đời sống.
44Người ta nói rằng những người huỷ hoại gia pháp thì bị đoạ trong địa ngục. 45Đây là một trọng tội! Chúng ta đang chuẩn bị giết những người thân thuộc của mình vì lòng tham hưởng khoái lạc của vương quyền. 46Tốt hơn với tôi, thà các con của Dhritarashtra mang vũ khí trong tay tới tấn công và giết chết tôi đi khi tay tôi không vũ khí và không kháng cự lại.
Sanjaya
47Lòng tràn ngập đau xót, Arjuna đã thốt những lời ấy.
Rồi ném cung tên xuống, chàng ngồi phịch xuống chiếc xe chiến mã giữa chiến trường.
*
CHƯƠNG II
Chứng ngộ Chân Ngã
1Đây là những lời mà Krishna đã nói với Arjuna đang tuyệt vọng, đôi mắt chàng nóng bỏng những giọt lệ vì thương xót và hoang mang.
Krishna
2Này hỡi
Arjuna, tuyệt vọng và nhu nhược vào giờ phút khủng hoảng này là thấp hèn và
không xứng đáng với ngươi. Sao ngươi lại rơi vào tình trạng quá xa con đường dẫn
tới giải thoát? 3Thật không
thích hợp với ngươi khi đầu hàng sự yếu đuối này. Hãy đứng dậy bằng quả tim
dũng cảm và tiêu diệt kẻ thù.
Arjuna
4Làm sao tôi lại đành lòng chiến đấu chống lại Bhishma và Drona, những bậc đáng tôn kính? Sao tôi làm điều đó được, hỡi Krishna? 5Chẳng thà suốt đời tôi đi ăn mày còn hơn giết hại những con người vĩ đại và đáng trọng này! Giả sử tôi giết họ, mọi lạc thú mà tôi có được sẽ bị vấy bẩn. 6Thậm chí tôi không biết điều nào tốt hơn nữa, nếu chúng ta thắng họ hay họ thắng chúng ta. Các con trai của Dhritarashtra đang đối mặt với chúng ta; nhưng tại sao chúng ta lại ham sống nếu chúng ta đã giết họ?
7Ý chí tôi tê liệt và tôi hoàn toàn hoang mang. Xin hãy bảo cho tôi biết đâu là con đường tốt hơn cả. Xin hãy nhận tôi là môn đệ ngài. Tôi đã phủ phục dưới chân ngài; xin ban cho tôi lời chỉ giáo. 8Làm sao có thể khắc phục nỗi thương đau đang làm cạn kiệt sức sống của tôi? Kể cả giành được quyền lực bao trùm con người và thần thánh hoặc một đế chế phồn thịnh đi nữa cũng dường như trống rỗng với tôi.
Sanjaya
9 Đây là những lời mà Arjuna, người chiến binh anh dũng, đã nói với Krishna, ‘Ôi Krishna, tôi sẽ không giao chiến’, rồi chàng im lặng. 10Đang khi họ đứng giữa hai đạo quân, Sri Krishna mỉm cười và đáp lời Arjuna đang chìm đắm trong tuyệt vọng.
Krishna
11Ngươi thốt ra những lời chân thành, nhưng nỗi đau lòng của ngươi không chính đáng. Bậc hiền triết không khóc thương người sống cũng như người chết. 12Chưa từng bao giờ ngươi và ta và các vua chúa tập hợp nơi đây lại đã không hiện hữu, và chúng ta cũng sẽ chẳng bao giờ ngừng hiện hữu. 13Cũng là linh hồn ấy ở trong thân thể một người qua suốt tuổi thơ, tuổi xuân, và tuổi già, nên cũng vậy, khi chết đi nó lại chuyển qua một thân thể khác. Bậc hiền triết không bị huyễn hoặc bởi những thay đổi này.
14Khi những giác quan tiếp xúc với những đối tượng cảm giác, một người kinh nghiệm sự nóng hoặc lạnh, lạc thú và đớn đau. Những kinh nghiệm này đều chóng qua; chúng đến rồi đi. Hãy kiên nhẫn chịu đựng chúng, Arjuna. 15Kẻ nào không bị tác động bởi những thay đổi này, và xem lạc thú và đớn đau đều như một, thì chính là bậc hiền giả và đầy đủ để đạt tới sự bất tử. Hãy khẳng định nghị lực của ngươi và nhận thức điều này!
16Sự vô thường không có thực tướng (reality); thực tướng nằm trong vĩnh hằng. Những ai nhìn ra ranh giới giữa hai điều này là đã đạt được cứu cánh của mọi tri thức. 17Hãy nhận thức cái tràn ngập vũ trụ và không thể huỷ diệt được; không sức mạnh nào có thể ảnh hưởng tới cái thực tướng bất biến và bất diệt này. 18Thân thể phải chịu tử vong, nhưng linh hồn trú ngụ trong thân thể thì bất tử và vô hạn. Vì thế, Arjuna, hãy chiến đấu.
19Một kẻ tin hắn là kẻ giết người, còn kẻ kia tin hắn bị giết chết. Cả hai đều vô minh; không có kẻ giết lẫn kẻ bị giết. 20Ngươi chưa bao giờ được sinh ra; ngươi sẽ không bao giờ chết. Ngươi đã chưa bao giờ biến đổi; ngươi không bao giờ có thể biến đổi. Bất sinh, vĩnh hằng, bất biến, nguyên sơ, ngươi không chết khi thân xác chết. 21Khi nhận thức được cái phần linh hồn bất diệt, vĩnh hằng, bất sinh, và bất biến, làm sao ngươi có thể giết hại hoặc xui khiến kẻ khác giết hại?
22Như một người cởi bỏ bộ y phục cũ sờn để nhận bộ y phục mới, cũng thế, khi thân xác đã kiệt quệ thì Chân Ngã [Linh hồn] tiếp nhận thân thể mới và sống bên trong.
23Chân Ngã không thể bị vũ khí đâm chém hoặc bị lửa thiêu đốt; nước không làm nó ướt, gió cũng không làm nó khô héo. 24Chân Ngã không thể bị đâm, bị thiêu, bị ướt hay bị khô. Nó thường hằng và vô hạn, và trụ trên những nền tảng bất động của vĩnh hằng. 25Chân Ngã không thị hiện, vượt ngoài mọi tư tưởng, vượt ngoài mọi thay đổi. Khi hiểu được điều này, ngươi không nên đau buồn.
26Hỡi Arjuna dũng mãnh, ngay cả nếu ngươi tin Chân Ngã phải chịu lẽ sinh và tử, ngươi cũng không nên đau buồn. 27Cái chết vốn không tránh khỏi với kẻ sống; sinh ra không tránh khỏi chết đi. Vì tránh không được, ngươi cũng không cần phải sầu não. 28Mỗi tạo vật thoạt đầu bất hiển hiện và rồi được hiển hiện. Khi tới lúc cáo chung của nó, một lần nữa nó lại trở nên bất hiển hiện. Biết được vậy còn than thở làm chi?
29Hào quang của Chân Ngã được một ít người thấy, và một ít người miêu tả nó; một ít người lắng nghe, nhưng nhiều người không hiểu. 30Chân Ngã của mọi chúng sinh, sống trong thân thể, là vĩnh hằng và không bị tổn hại. Vì vậy, chớ đau buồn.
31Nếu ngươi soi xét kĩ dharma (lí tưởng hay nghĩa vụ) của chính mình, ngươi sẽ không do dự. Đối với một chiến binh (ksatriya), không có gì cao hơn cuộc chiến chống lại cái ác. 32Này Arjuna, một cuộc chiến như thế mà người chiến binh đương đầu là sự hân hạnh, vì nó như cánh cổng mở vào thiên đường. 33Còn nếu ngươi không tham dự vào trận chiến chống cái ác này, ngươi sẽ mắc tội làm trái với dharma của ngươi và đánh mất cả danh dự của ngươi.
34Câu chuyện về sự ô danh của ngươi sẽ muôn đời được kể lại: vì đối với người trọng danh dự, thì ô danh còn tệ hơn cái chết. 35Những chiến binh dũng cảm kia sẽ cho rằng ngươi đã rút khỏi trận chiến vì sợ hãi, còn những người đã từng coi trọng ngươi sẽ khinh thường ngươi. 36Kẻ thù sẽ chế giễu sự yếu hèn của ngươi và còn nói những lời nặng nề hơn nữa. Còn có gì đớn đau hơn thế?
37Chết nghĩa là có được cõi trời; thắng nghĩa là vui hưởng trần gian. Vì thế, Arjuna, hãy đứng dậy quyết chiến! 38Khi nào ngươi xem sướng cũng như khổ, được cũng như mất, thắng cũng như bại, vậy thì hãy dấn mình vào cuộc chiến lớn này, và ngươi sẽ thoát khỏi tội lỗi.
39Này Arjuna, ngươi đã nghe giải thích theo lí trí của phái Samkhya; giờ hãy nghe những nguyên lí của yoga. Nhờ thực hành những nguyên lí này ngươi có thể phá bỏ những trói buộc của karma. 40Trên đạo lộ này chẳng có chi bị hoài công hay thất bại. Ngay cả một chút nhận thức tâm linh sẽ bảo vệ ngươi khỏi hiểm hoạ lớn nhất.
41Những người theo con đạo lộ này, trong lòng họ quyết tâm phải tìm kiếm mục đích của mình, và đạt tới chỉ một mục đích. Còn những người nào thiếu cương quyết thì những quyết định của đời sống bị phân tán thành nhiều nhánh vô định.
42Có những kẻ ngu muội nói những lời hoa mĩ và sung sướng trong văn tự của kinh sách, và nói rằng chẳng có gì hơn nữa. 43Arjuna hỡi, lòng họ tràn đầy dục vọng vị kỉ. Ý niệm của họ về thiên đường chỉ cốt để hưởng thụ riêng, và mục tiêu mọi hoạt động của họ là khoái lạc và quyền lực. Kết quả hành động của họ là sự luân hồi liên tục. 44Những kẻ để tâm trí cuốn trôi trong sự theo đuổi khoái lạc và quyền lực thì không có khả năng đi theo mục đích tối thượng và sẽ không đạt được samadhi (định). 45Thánh thư (Veda) miêu tả sinh mệnh được tạo thành từ tam tính guna (phẩm tính tự nhiên). Nhưng ngươi hãy thoát ra khỏi tác động của những guna này, vững vàng trong chân lí vĩnh hằng, chuyên chú, không mắc vào nhị nguyên đối lập hoặc ham muốn thủ đắc và tích trữ.
46Cũng giống như một hồ chứa nước chẳng còn mấy hữu ích khi mà cả xứ sở bị ngập lụt, thì thánh thư cũng không còn hữu ích với một người giác ngộ tự tính khi thấy đấng Chí Tôn ở khắp mọi nơi.
47Ngươi có quyền làm [bổn phận] nhưng không được quyền hưởng thành quả việc làm. Ngươi đừng bao giờ hành động vì mong được phần thưởng, cũng chớ bao giờ có ý định không hành động. 48Hãy thực thi bổn phận trên trần gian này, Arjuna, như một người tâm niệm chuyên chú vào tự tính – từ bỏ những chấp thủ vị kỉ, xem sự thành hay bại đều như nhau. Vì yoga là sự bằng phẳng trọn vẹn của tâm.
49Hãy an trú trong sự xả bỏ và ngươi sẽ tích tụ sự giàu có về nhận thức tâm linh. Đáng thương cho những kẻ mà động cơ chỉ ham muốn thành quả của hành động, vì họ không ngớt lo lắng tới kết quả việc họ làm. 50Tuy nhiên, khi ý thức đã hợp nhất, mọi lo lắng vô ích sẽ được bỏ lại đằng sau. Không có lí do gì để lo ngại, bất luận sự việc diễn ra tốt hay xấu. Vì thế, hãy tận hiến mình cho pháp môn yoga, vì yoga là nghệ thuật hành động.
51Bậc hiền giả thuần nhất ý thức của mình và dứt bỏ chấp trước vào những thành quả của hành động vốn ràng buộc một người vào vòng sinh tử luân hồi. Vì vậy họ đạt được cảnh giới chí phúc.
52Khi tâm trí ngươi đã vượt qua huyễn tượng của tính nhị nguyên, ngươi sẽ đạt được trạng thái vô phân biệt với những đạo lí ngươi từng nghe và sẽ được nghe. 53Khi ngươi không còn dao động bởi những tạp niệm và tâm trí ngươi được hợp nhất hoàn toàn trong samadhi (định) thâm sâu, ngươi sẽ đạt được cảnh giới yoga toàn hảo.
Arjuna
54Thưa Krishna, xin nói về những người đã sống an trụ trong trí tuệ và luôn ý thức về Chân Ngã. Họ sẽ nói năng thế nào? Ngồi thế nào? Đi đứng thế nào?
Krishna
55Những người sống trong trí tuệ nhìn thấy bản thân họ trong tất cả và tất cả trong họ, họ đã từ bỏ mọi dục vọng vị kỉ và giác quan thèm muốn giày vò tâm hồn. 56Không còn bị kích động bởi đau buồn hoặc ham muốn lạc thú, họ thoát khỏi sắc dục, sợ hãi và giận dữ. Khi đã an trụ vững chắc trong thiền định, họ quả là bậc hiền giả. 57Họ không còn những chấp trước, quyến luyến, cũng không còn vui buồn trước những vận may, rủi. Đó là những bậc thánh triết đã thành tựu cảnh giới tối cao.
58Như con rùa thu hồi tứ chi vào trong, người có ý thức toàn thiện có thể thu hồi các giác quan của mình theo ý muốn. 59Chân Ngã tránh khỏi được những khoái lạc của giác quan, song những thèm muốn thì vẫn còn đó. Thế nhưng những thèm muốn này biến mất khi họ nhìn thấy mục tiêu tối cao. 60Ngay cả những người nỗ lực đi trên đạo lộ này, những giác quan gây sóng gió vẫn có thể làm nhiễu loạn tâm trí. 61Những người sống trong trí tuệ chinh phục các giác quan và tâm trí của họ luôn chú tâm nhập vào Ta.
62Khi ngươi mơ tưởng tới những đối tượng giác quan, sẽ sinh lòng quyến luyến. Quyến luyến sinh ra ham muốn, và ham muốn sở hữu tất dẫn đến lửa sận hận. 63Sân hận làm mù quáng trí phán đoán; ngươi không còn học được từ những sai lầm trong quá khứ. Khi ngươi đánh mất năng lực chọn lựa giữa điều khôn ngoan và điều dại dột, cuộc đời ngươi hoàn toàn uổng phí. 64Nhưng khi ngươi chế ngự thế giới giác quan, thoát khỏi cả yêu lẫn ghét, 65thì có được sự an nhiên, từ đó mọi đau khổ cũng chấm dứt, và ngươi sống trong trí tuệ của Chân Ngã.
66Nếu tâm chia lìa khỏi sự khôn ngoan; làm sao nó thiền định được? Làm sao nó có được bình an? Khi không biết tới bình an, làm sao biết được an lạc? 67Khi ngươi để cho tâm trí đi theo tiếng gọi của giác quan, chúng sẽ đem ngươi ra khỏi sự phán đoán như bão tố cuốn con thuyền xa khỏi hướng của hải đồ.
68Hãy dùng mọi năng lực của ngươi để thoát khỏi cả yêu lẫn ghét, và sống trong trí tuệ trọn vẹn của Chân Ngã. 69Trong đêm trầm mê của mọi chúng sinh là lúc bậc thánh nhân thức tỉnh với ánh sáng. Cái mà thế nhân gọi là ngày thì là đêm vô minh đối với bậc hiền giả.
70Như những con sông chảy vào đại dương mênh mang mà không bao giờ làm đầy tràn, cũng như thế, bậc thánh nhân tựa biển thái bình mà những dòng của thế giới giác quan chảy vào. Nhưng với kẻ đầy dục vọng thì không như thế.
71Kẻ luôn luôn tự do là người từ bỏ mọi dục vọng vị kỉ và phá vỡ
chiếc lồng bản ngã của cái ‘tôi’ và ‘của tôi’ để hợp nhất với đấng Chí Tôn. 72Đây là cảnh giới tối thượng.
Khi một người đạt được cảnh giới này, thì vượt qua khỏi cái chết để tới sự bất
tử.
*
CHƯƠNG 3
Phụng sự vô ngã
Arjuna
1Ôi Krishna, ngài nói rằng trí tuệ thì cao hơn hành động; vậy sao ngài lại yêu cầu tôi tiến hành trận chiến kinh khủng này? 2Lời ngài khuyên dường như bất nhất. Hãy chỉ cho tôi một con đường để đi tới sự thiện hảo tối thượng.
Krishna
3Vào lúc đầu, ta đã trình bày hai con đường cho người
có tâm hồn thuần khiết: jnana yoga, con đường chiêm niệm của trí tuệ tâm
linh, và karma yoga, con đường tích cực của phụng sự vô ngã.
4Kẻ trốn tránh hành động thì không đạt được tự do; không ai có thể đạt được hoàn thiện nếu lảng tránh hành động. 5Thực vậy, không ai nghỉ yên dẫu chỉ một khoảnh khắc; mọi chúng linh đều bị thúc đẩy do xung lực từ bản tính riêng của mình.
6 Những ai lảng tránh hành động trong khi vẫn cho phép tâm trí ấp ủ khoái lạc của giác quan thì không thể được gọi là những hành giả thành tâm. 7Nhưng người nào trội vượt thì biết kiểm soát giác quan bằng trí tuệ và dùng chúng để phụng sự vô ngã
8Hãy làm tròn bổn phận của ngươi; vì hành động thì tốt hơn là thụ động. Này Arjuna, ngay cả để duy trì thân thể của mình, ngươi buộc phải hành động. 9Hành động vị kỉ thì trói buộc vào với thế giới này. Hãy hành động một cách vô ngã, đừng mảy may nghĩ tới lợi ích riêng.
10Vào khởi nguyên, nhân loại và bổn phận phụng sự vô ngã đã được tạo ra đồng thời. Đây là lời hứa của đấng Sáng tạo: ‘Bằng phụng sự vô ngã, ngươi sẽ luôn được thành quả và chu toàn những ước muốn của ngươi’
11Hãy vinh danh và yêu quý chư thiên như họ đã vinh danh và yêu quý ngươi; qua sự vinh danh và yêu thương, ngươi sẽ đạt được cái thiện tối thượng. 12Mọi ước muốn của con người được hoàn tất bởi chư thiên vì họ hài lòng bởi việc phụng sự vô ngã. Còn kẻ nào tận hưởng những thứ mà chư thiên đã ban mà không dâng hiến những hành động vô ngã để đền đáp thì là kẻ ăn cắp.
13Người tâm linh sốt sắng, họ ăn trong tinh thần phụng sự thì được giải thoát khỏi mọi tội lỗi; còn những kẻ ích kỉ chỉ biết nấu thực phẩm để thoả mãn riêng, họ ăn trong tội lỗi. 14Chúng sinh được nuôi dưỡng bằng lúa gạo, và lúa gạo được nuôi dưỡng nhờ mưa móc; mưa chính là nước sự sống và có được nhờ việc phụng thờ và phụng sự vô ngã.
15Arjuna, mỗi hành động vô ngã được sinh ra từ Brahman, đấng Thượng Đế vĩnh hằng và vô hạn. Brahman hiện diện trong mỗi hành động phụng sự. 16Hỡi Arjuna, tất cả đời sống xoay vần trên quy luật này. Những ai vi phạm nó, buông thả giác quan vì khoái lạc riêng mà bỏ quên những nhu cầu của tha nhân là đã bỏ phí cuộc đời họ. 17Còn những ai chứng ngộ Chân Ngã thì luôn được mãn nguyện. Họ tìm thấy nguồn hoan lạc và viên mãn, không còn tìm hạnh phúc từ thế giới bên ngoài nữa. 18Họ không còn gì để đạt hoặc mất đi do bất cứ hành động nào; không ai hoặc điều gì có thể ảnh hưởng đến sự an toàn của họ được
19Hãy cố gắng không ngừng phụng sự vì phúc lợi của thế giới; bằng sự tận tuỵ cho việc làm vô ngã, người ta đạt được mục tiêu cao nhất của đời sống. 20 Luôn luôn trong tâm niệm rằng hãy làm việc của ngươi vì phúc lợi của tha nhân. Chính bằng công việc như thế mà Vua Janaka đã thành tựu viên mãn; những người khác cũng đi theo con đường này.
21Những gì mà bậc xuất chúng làm thì những người khác sẽ gắng làm. Những chuẩn mực mà người xuất chúng tạo ra sẽ được cả thế giới noi theo. 22Arjuna, chẳng có gì trong ba cõi giới để ta đạt được, cũng chẳng có gì mà ta không có; ta tiếp tục hành động mà không bị thúc đẩy bởi bất kì nhu cầu riêng nào. 23Nếu ta lảng tránh công việc liên tục, cả thiên hạ sẽ bắt chước ta. 24Nếu ta ngưng làm việc, ta sẽ là nguyên nhân của sự hỗn loạn vũ trụ, và cuối cùng sẽ huỷ diệt cả thế giới này và chúng sinh này.
25Arjuna hỡi, kẻ vô minh làm việc vì lợi ích riêng; bậc hiền giả làm việc vì phúc lợi của thế giới và không nghĩ cho bản thân. 26Nếu tránh né công việc ngươi sẽ làm hoang mang kẻ vô minh đang mê mải trong những hành động của họ. Hãy thực thi mọi công việc cho cẩn thận, được hướng dẫn bởi lòng từ bi.
27Mọi hành động đều được thực hiện bởi tam tính guna của prakriti. Bị huyễn hoặc do đồng nhất với cái tôi, người ta tưởng rằng, ‘Tôi là người thực hiện.’ 28Nhưng người giác ngộ hiểu được phạm vi của những guna và không bị buộc chặt vào. Họ biết rằng các guna tương tác với nhau; họ không tự nhận là người thực hiện.
29Những người bị huyễn hoặc bởi hoạt động của các gunas thì bám chặt vào kết quả hành động của họ. Những người hiểu được những sự thật này cũng không nên làm bất an kẻ vô minh. 30Hãy thực hiện mọi hành động vì Ta, hoàn toàn hấp thu trong Chân Ngã, và không kì vọng, hãy giao chiến! – nhưng tránh xa cơn sốt của cái tôi.
31Những ai sống phù hợp với những luật thiêng này, không ta thán, an trú vững vàng trong đức tin, thì được giải thoát khỏi karma. 32Còn những kẻ vi phạm những luật này, chê bai và ta thán, thì hoàn toàn bị huyễn hoặc, và là nguyên nhân cho sự đau khổ của họ.
33Ngay cả bậc trí tuệ cũng hành động trong những giới hạn theo bản tính của mình. Mọi tạo vật đều chịu phụ thuộc vào prakriti; vậy sự ức chế có ích gì? 34Những giác quan bị điều kiện hoá do thu hút tới sự vừa ý và ghét cái không vừa ý. Chớ để bị chúng chế ngự; chúng là những trở ngại trên con đường của ngươi.
35Thà cố gắng thực hiện dharma (bổn phận đạo lí) của mình còn hơn hoàn thành dharma của người khác. Không có gì mất đi bao giờ khi làm theo dharma của mình, nhưng sự ganh đua theo dharma của người khác thì nuôi dưỡng nỗi sợ hãi và sự bấp bênh.
Arjuna
36Ôi Krishna, thế lực nào ràng buộc con người vào những hành vi vị kỉ? Sức mạnh nào thúc đẩy con người, ngay cả trái ý muốn của hắn, và như thể bị ép buộc?
Krishna
37Chính lòng ham muốn vị kỉ và sân nộ nảy sinh từ guna của rajas (tham dục); đây là những thèm muốn và những điều xấu xa đe doạ một người trong đời này.
38Như lửa bị khói bủa vây và tấm gương bị bụi mờ, như bào thai nằm trong dạ con, trí tuệ bị che giấu bởi ham muốn vị kỉ 39 Arjuna hỡi, và nó bị che giấu bởi ngọn lửa không thể dập tắt do sự tự mãn, là kẻ thù truyền kiếp của bậc hiền triết.
40Dục vọng vị kỉ có thể thấy ở trong những giác quan, tâm trí, và trí tuệ, làm cho chúng lầm lạc và chôn vùi sự hiểu biết bằng ảo tưởng lừa dối. 41Hãy chiến đấu hết sức mình, Arjuna! Hãy hiểm soát giác quan ngươi, khuất phục kẻ huỷ diệt ngươi, là kẻ thù của tri thức và sự chứng ngộ.
42Các giác quan thì cao hơn thân thể,
tâm trí thì cao hơn các giác quan; trên tâm trí là trí tuệ, và trên trí tuệ là Atman (Chân Ngã). 43Vì
vậy, khi hiểu được những gì là tối cao, hãy để cho Atman cai trị bản ngã. Hãy sử dụng cánh tay uy dũng của ngươi tiêu
diệt kẻ thù khốc liệt là dục vọng vị kỉ.
*
CHƯƠNG 4
Trí tuệ trong hành động
Krishna
1Ta đã truyền lại bí mật vĩnh cửu này cho [thần mặt
trời] Vivasvat. Vivasvat đã dạy lại cho [thuỷ tổ loài người] Manu, và Manu đã dạy
cho [quốc vương] Ikshvaku. 2Vì
thế, Arjuna, những bậc hiền triết xuất chúng đã tiếp thu tri thức yoga
trong một truyền thống liên tục. Nhưng qua thời gian, lối thực hành yoga
này đã bị thất truyền trên thế gian.
3Bí mật của những lời dạy này thật thâm sâu. Ta đã giải
thích chúng cho ngươi hôm nay bởi ngươi là bạn và người sùng mộ của Ta.
Arjuna
4Ngài được sinh ra sau Vivasvat; vị ấy đã sống cách đây rất lâu đời. Sao ngài nói rằng ngài đã dạy yoga này từ khởi thuỷ?
Krishna
5Arjuna, ngươi và Ta đã trải qua vô số kiếp sinh. Ngươi thì đã quên, nhưng Ta thì nhớ tất cả mọi kiếp. 6Hữu thể đích thực của Ta thì bất sinh và bất biến. Ta là Chúa tể ngự trong mọi tạo vật. Thông qua quyền năng maya của Ta, Ta thị hiện chính mình trong hình hài hữu hạn.
7Bất cứ khi nào chính pháp (dharma) bị suy đồi và sự vô đạo hoành hành, ta sẽ lại thị hiện dưới thế. 8Ta giáng sinh trong mọi thời đại để bảo vệ cái thiện, tiêu trừ cái ác, và để thiết lập lại chính pháp.
9Những người nào biết Ta như là Chân Ngã thần thánh của họ, sau khi rời bỏ thân xác thì họ không còn tái sinh làm tạo vật nữa. Arjuna hỡi, những kẻ như thế được hợp nhất với Ta. 10Giải thoát khỏi tham luyến vị kỉ, sợ hãi, và sân hận, trong tâm họ tràn đầy Ta, phó thác cho Ta, và được thanh tịnh trong ngọn lửa của Ta, nhiều người đã đạt tới cảnh giới nhất thể trong Ta.
11Khi họ tới với Ta, Ta sẽ đón nhận họ. Ajurna hỡi, mọi con đường đều dẫn tới Ta.
12Những ai khao khát thành đạt trong hành động bằng phụng vụ các thần linh; thông qua hành động ở trần thế này, thì những ước muốn của họ sớm được đáp ứng. 13Những khác biệt về đẳng cấp, guna, và karma đều do Ta tạo ra. Ta là nguyên nhân, nhưng Ta tự thân bất biến và vượt ngoài mọi hành động. 14Những hành động không bám vào Ta bởi Ta không chấp trước kết quả của chúng. Những ai hiểu được điều này và thực hành nó thì sống trong tự do. 15Khi biết được chân lí này, trong thời cổ đại, những hành giả khao khát được giải thoát đã dấn mình hành động. Ngươi cũng có thế làm như thế, theo đuổi một đời sống tích cực như những hiền nhân thời cổ đại.
16Thế nào là hành động và thế nào là không hành động? Câu hỏi này đã làm bối rối những bậc đại hiền triết. Ta sẽ ban cho ngươi bí ẩn của hành động để nhờ đó ngươi có thể tự giải thoát khỏi sự trói buộc. 17Bản chất thực sự của hành động rất khó nắm bắt. Ngươi phải hiểu thế nào là hành động và thế nào là không hành động, loại hành động nào nên tránh.
18Bậc hiền nhân nhìn thấy có hành động ở trong không hành động và không hành động ở trong hành động. Ý thức của họ được hợp nhất, và mọi hành động đều được thực hiện bằng nhận thức trọn vẹn.
19Những bậc đại giác ngộ xem một người là minh triết khi mọi công việc của y không còn vướng bận tới kết quả; vì mọi ham muốn vị kỉ đã cháy rụi trong ngọn lửa trí tuệ. 20Người đó mãi mãi an lạc vì đã từ bỏ mọi dựa dẫm từ bên ngoài. Sự an toàn của họ không bị ảnh hưởng do kết quả từ hành động của họ; ngay cả trong khi hành động, họ thực sự không làm gì cả. 21Khi thoát khỏi những kì vọng và khỏi mọi ý thức sở hữu, với thân và tâm được kiểm soát vững vàng bởi Chân Ngã, những người ấy không mắc vào tội lỗi ngay cả trong hành động của thể xác.
22Những người sống trong tự do đã vượt ra ngoài những nhị nguyên của đời sống. Không cạnh tranh với ai, họ xem thành hay bại cũng như nhau và an nhiên với bất cứ điều gì xảy đến với họ. 23Họ tự do vì không chấp trước vị kỉ; tâm trí đặt cả vào trí tuệ. Họ thực hiện mọi công việc bằng tinh thần phụng sự, vì thế karma (nghiệp lực) của họ được tan biến.
24Quá trình hiến tế là Brahman; những gì được hiến tế là Brahman. Brahman dâng cuộc hiến tế trong ngọn lửa của Brahman. Brahman được thành tựu bởi những ai nhìn thấy Brahman trong mọi hành động.
25Một số tín đồ hiến tế lễ vật tới các thần linh. Những người khác hiến tế sự phụng sự vô ngã để hi sinh trong ngọn lửa của Brahman. 26Một số người từ bỏ mọi hưởng thụ giác quan và hi sinh chúng trong ngọn lửa tiết chế giác quan. Những người khác cùng hưởng những đối tượng giác quan nhưng hiến tế chúng lên bằng phụng sự qua ngọn lửa của giác quan. 27Một số người hiến tế những hoạt động của giác quan và sinh lực qua ngọn lửa của tự chủ được thắp sáng trên con đường trí tuệ.
28Một số người hiến tế của cải; những người khác hiến tế sự tiết chế giác quan và khổ hạnh. Một số người thệ nguyện và hiến tế tri thức và học tập kinh sách; và một số người hiến tế bằng việc thiền định. 29Một số người hiến tế những hoạt lực điều tiết hô hấp hít vào thở ra, nhờ vậy đạt được kiểm soát các lực này. 30Những người khác hiến tế những hoạt lực qua tiết chế những giác quan. Tất cả họ đều hiểu được ý nghĩa của phụng sự và sẽ được thanh tẩy khỏi những ô uế.
31Thực phẩm đích thực nằm trong phụng sự, và qua đó một người đạt tới Brahman vĩnh cửu. Còn kẻ nào không tìm cách phụng sự thì không có ngôi nhà trong thế giới này. Hỡi Arjuna, làm sao họ có ngôi nhà nào khác trong thế giới tương lai?
32Những hiến tế này được sinh ra từ hoạt động, và mỗi loại hiến tế dẫn đạo con người tới Brahman. Biết được điều này, ngươi sẽ đạt được giải thoát. 33Arjuna hỡi, hiến tế của trí tuệ thì quý hơn bất kì loại hiến tế vật chất nào; vì mục tiêu của mọi hoạt động là trí tuệ tâm linh.
34Hãy tới với những bậc đã chứng ngộ được mục đích cuộc đời và hãy hỏi họ bằng sự cung kính và thành tâm; họ sẽ hướng dẫn ngươi về loại trí tuệ này. 35Khi đạt được nó, ngươi sẽ không còn bị ảo tưởng nữa. Ngươi sẽ thấy mọi tạo vật trong Chân Ngã, và hết thảy ở trong Ta. 36Này Arjuna, ngay cả nếu ngươi là kẻ tội lỗi nhất trong số những kẻ tội lỗi, ngươi vẫn có thể vượt qua mọi tội lỗi bằng con thuyền của trí tuệ siêu việt. 37Như ngọn lửa thiêu đống củi thành tro, thì ngọn lửa trí tuệ cũng thiêu hết thảy karma (nghiệp lực) thành tro. 38Không gì trên trần gian này thuần khiết như trí tuệ tâm linh. Nó là sự hoàn hảo đạt được cùng với thời gian nhờ con đường yoga, còn đường dẫn tới Chân Ngã bên trong.
39Những người nào xem trí tuệ là mục tiêu cao nhất, và đức tin
sâu xa và giác quan được rèn luyện, thì sớm đạt được trí tuệ và nhập vào sự an
lạc toàn thiện. 40Còn kẻ
vô minh, nghi ngờ và thiếu đức tin, phung phí đời họ. Họ không bao giờ hạnh
phúc ở thế giới này hay thế giới khác. 41Những
người an trú trong Chân Ngã đã từ bỏ những ngã chấp vào hành động của họ và chặt
đứt mọi nghi ngờ bằng trí tuệ siêu việt. Họ hành động trong tự do. 42Arjuna, hãy chặt đứt sự
hoài nghi này trong trái tim ngươi bằng thanh gươm trí tuệ tâm linh. Hãy đứng dậy,
đi theo pháp môn yoga!
*
CHƯƠNG 5
Xả bỏ và hoan hỉ
Arjuna
1Thưa Krishna, ngài đã đề nghị cả hai con đường hành động vô ngã và sannyasa, con đường từ bỏ hành động. Xin hãy chỉ rõ cho tôi biết con đường nào tốt hơn.
Krishna
2Cả từ bỏ hành động lẫn hành động vô ngã đều dẫn tới mục đích tối thượng. Nhưng con đường hành động thì tốt hơn là từ bỏ.
3Những người đã đạt được sự từ bỏ hoàn toàn thì thoát khỏi bất cứ đối lập nhị nguyên nào; Arjuna hỡi, họ không bị ảnh hưởng bởi cái thích và cái không thích, và thoát khỏi vòng trói buộc của ý chí bản ngã. 4Kẻ thiếu trưởng thành cho rằng tri thức và hành động là hai thứ khác biệt, nhưng bậc hiền giả xem chúng như nhau. Người đã vững vàng trên một con đường cũng sẽ đạt được phần thưởng của cả hai. 5Mục tiêu của tri thức và mục tiêu của phụng sự đều như nhau; ai không thấy được điều này là mù quáng. 6Sự từ bỏ hoàn toàn thì khó mà thành tựu nếu không có thực thi hành động. Nhưng người hiền triết đi theo con đường phụng sự vô ngã thì sớm đạt tới Brahman.
7Người đi theo con đường phụng sự đã thanh tẩy hoàn toàn bản thân và đã chinh phục giác quan và ý chí cá nhân, thì thấy được Chân Ngã trong vạn vật và không bị bợn nhơ bởi bất cứ hành động nào mà người ấy thực hiện.
8Người nào biết chân lí này thì ý thức được hợp nhất, vì luôn biết rằng, ‘Chẳng phải tôi làm.’ Mặc dù thấy hoặc nghe, sờ hoặc ngửi, di chuyển, hoặc ngủ, hít thở 9hoặc nói, buông xả hoặc nắm lấy, ngay cả mở hoặc nhắm mắt lại, họ đều hiểu rằng những điều này chỉ là những chuyển động của các giác quan giữa các đối tượng cảm giác.
10Người nào phó thác cho Brahman bằng hành động vô ngã thì giống như chiếc lá sen bồng bềnh vẫn sạch và ráo khô trong nước. Tội lỗi không thể bén vào người ấy được. 11Từ bỏ những chấp trước vị kỉ của mình, và đi theo con đường của việc phụng sự bằng thân thể, giác quan, và tâm trí để thanh tẩy bản ngã.
12Người nào ý thức được hợp nhất thì bỏ rơi mọi chấp thủ vào kết quả của hành động và đạt được an lạc tối thượng. Nhưng người có ham muốn bị phân mảnh, họ bám chặt vào kết quả việc làm và bị trói buộc vào mọi thứ họ làm.
13Người từ bỏ chấp thủ trong mọi hành vi thì sống tự tại trong ‘thành trì chín cửa’ của thân thể, như chủ nhân của nó. Họ không bị cuốn vào hành động cũng không luỵ vào hành động của người khác.
14Đấng Chí Tôn chẳng hành động, không thúc đẩy hành động, và cũng không tạo nhân và quả. Ba thứ này nảy sinh từ thuộc tính tự nhiên.
15Đấng Chí Tôn chẳng tham dự vào hành vi tốt lẫn xấu của ai; sự phán đoán bị che phủ khi trí tuệ bị u mê do vô minh. 16Nhưng sự vô minh thì bị xoá tan nhờ tri thức về Chân Ngã bên trong. Ánh sáng tri thức này chiếu toả như mặt trời hiển lộ Brahman tối thượng. 17Những ai xoá bỏ tội lỗi nhờ tri thức này, thì nhập vào đấng Chí Tôn và được vững vàng trong ngài như là mục tiêu và nơi an trú của họ, và không bị tái sinh trở lại.
18Những người sở hữu trí tuệ này có cái nhìn bình đẳng với tất cả. Họ nhìn thấy Chân Ngã như nhau trong một bậc tâm linh cao cả hoặc một tiện dân, trong một con voi, con bò, hoặc một con chó. 19Những người ấy đã làm chủ cuộc đời mình. Với tâm trí bình tịnh, họ nghỉ ngơi trong Brahman, đấng toàn hảo và bình đẳng ở khắp mọi nơi. 20Họ không mừng vì vận may, cũng không buồn vì vận xấu. Nhờ tâm trí đã trụ vững trong Brahman mà họ thoát khỏi ảo tưởng. 21Không lệ thuộc vào hỗ trợ nào từ bên ngoài, họ có được hạnh phúc trong nhận thức tâm linh. Nhờ ý thức hợp nhất qua thiền định, họ sống trong an lạc bất tận.
22Này Arjuna, những khoái lạc manh nha trong thế giới giác quan đều có một khởi đầu, một kết thúc và sinh ra bất hạnh. Hỡi Arjuna, bậc hiền triết không tìm kiếm hạnh phúc nơi chúng. 23Nhưng những ai vượt qua những xung lực của tham dục và sân nộ vốn nảy sinh trong thân thể thì được nên trọn vẹn và sống trong hoan lạc. 24Họ tìm thấy nguồn hoan lạc, sự an nghỉ, và nguồn sáng của họ hoàn toàn bên trong bản thân. Khi được hợp nhất với đấng Chí Tôn, họ đạt tới nirvana trong Brahman.
25Mọi tội lỗi đã được rửa sạch, xung đột nhị nguyên đã đoạn trừ, và làm việc vì lợi ích của mọi chúng sinh, những hiền giả đạt được nirvana trong Brahman. 26Khi thoát khỏi sân hận và ham muốn vị kỉ, và hợp nhất trong tâm trí, những ai đi theo con đường yoga và chứng ngộ Chân Ngã thì được an trú vĩnh viễn trong trạng thái tối cao đó.
27Khi mắt của họ nhắm lại, hơi thở đều đặn, và dồn chú tâm vào
trung tâm ý thức tâm linh, 28bậc
hiền giả làm chủ giác quan, tâm trí, và trí năng qua thiền định. Sự chứng ngộ Chân
Ngã là mục tiêu duy nhất của họ. Khi đã thoát khỏi ham muốn vị kỉ, sợ hãi, và
giận dữ, họ luôn luôn sống trong tự do. 29Và
nhận biết rằng Ta là bạn của mọi chúng sinh, Chúa tể vũ trụ, cứu cánh của mọi
hiến sinh và mọi giới hạnh, họ đạt được sự an lạc vĩnh cửu.
CHƯƠNG 6
Thực hành thiền định
Krishna
1Những ai làm mà không mong phần thưởng thì đạt được mục đích thiền định chứ không phải người thiếu nghị lực hoặc tránh hành động. 2Arjuna, vì thế ngươi nên hiểu rằng sự xả bỏ và phụng sự vô ngã đều giống nhau. Những ai không từ bỏ bám víu vào kết quả công việc của họ thì ở xa khỏi chính đạo.
3Với những hành giả muốn leo lên ngọn núi của nhận thức tâm linh, con đường này là hành động vô ngã; còn những người đã đạt được pháp môn yoga thì con đường là tĩnh tại và an định. 4Khi ngươi đã giải thoát tự ngã khỏi bám víu vào kết quả công việc, và thoát khỏi những ham muốn hưởng thụ những đối tượng giác quan, ngươi sẽ đạt tới trạng thái nhất thể.
5Hãy định hình lại bản thân bằng sức mạnh ý chí của ngươi; đừng bao giờ để bản thân ngươi bị suy thoái bởi ý chí cá nhân. Ý chí là người bạn duy nhất của Chân Ngã, và ý chí cũng là kẻ thù duy nhất của Chân Ngã.
6Với những người đã chinh phục tự thân, thì ý chí là người bạn. Nhưng ý chí lại là kẻ thù của người không tìm thấy Chân Ngã bên trong họ.
7Thực tại tối cao được phơi mở trong ý thức của người đã chinh phục tự
thân. Họ sống trong an định, xem nóng hay lạnh, sướng hay khổ, khen hay chê, đều
như nhau.
8Họ được mãn nguyện hoàn toàn nhờ trí tuệ tâm
linh và chứng ngộ Chân Ngã. Khi đã chinh phục các giác quan, họ leo tới đỉnh của
ý thức con người. Đối với họ, cục đất, viên đá, hay thỏi vàng đều như nhau. 9Họ
đối đãi bình đẳng, bất luận với gia đình, cũng như kẻ thù, bạn hữu, kẻ ủng hộ
mình cũng như kẻ chống đối mình, với người thiện cũng như kẻ ác. Do tâm bình đẳng
mà họ trỗi lên tới những đỉnh cao cả.
10Những hành giả yoga nên tìm
Chân Ngã trong sự tĩnh tịch nội tại qua thiền định. Bằng việc kiểm soát thân và
tâm, không ngừng thực hành nhất điểm trụ, không còn tưởng vọng và ham sở hữu vật
chất.
11Chọn một địa điểm sạch sẽ, không quá cao cũng không quá thấp, và ngồi vững vàng trên một tấm vải, miếng da hươu, và lớp cỏ kusha bên dưới cùng. 12Khi tĩnh toạ, cố làm cho tư tưởng lắng xuống. Hướng tâm thiền định vào một điểm, và rồi tâm hồn ngươi sẽ được thanh khiết. 13Giữ thân mình, đầu, và cổ cho vững chãi thẳng tuyến, và mắt chăm chú nhìn bất động vào đầu mũi. 14Để cho mọi nỗi sợ tan biến vào trong sự an tĩnh của Chân Ngã và mọi hành động đều dâng hiến cho Brahman, làm chủ tâm trí và chuyên chú vào Ta, trong toạ thiền lấy Ta là mục đích duy nhất của ngươi. 15Với giác quan và tâm trí lúc nào cũng làm chủ qua thiền định, hợp nhất với Chân Ngã bên trong, bậc hành giả đạt tới nirvana, niềm hoan lạc và an bình trong Ta.
16Này Arjuna, người ăn quá nhiều hoặc quá ít, người ngủ quá nhiều hoặc ngủ thiếu, sẽ không thành công về thiền định. 17Còn những ai biết điều hoà trong ăn, ngủ và nghỉ ngơi, sẽ chấm dứt phiền não bằng thiền định. 18Qua nỗ lực không ngừng, họ học cách chế ngự tâm trí khỏi những ham muốn vị kỉ và nhiếp tâm vào Chân Ngã. Vì vậy, họ đạt được trạng thái hợp nhất.
19Khi được điều ngự bằng thiền định, thì tâm trí không dao động như ngọn đèn nơi vắng gió. 20Trong tâm tĩnh lặng, trong trầm mặc thâm sâu, Chân Ngã tự hiển lộ. Khi được chiêm ngắm Chân Ngã, một hành giả biết được an lạc trong sự viên mãn. 21Khi đã đạt được niềm hoan lạc vĩnh phúc vượt ngoài những giác quan, được phơi mở trong tâm tĩnh tại, họ không bao giờ xa rời chân lí vĩnh hằng. 22Họ không ham muốn gì khác và không thể bị lung lay bởi gánh phiền não nặng nề.
23Thiền định giải thoát người ta khỏi mọi khổ não. Đây là đạo của yoga. Hãy đi theo yoga bằng quyết tâm và nhiệt tình lâu dài. 24Hãy hết lòng từ bỏ mọi dục vọng vị kỉ, và dùng ý chí chế ngự toàn bộ giác quan. 25Lần hồi, bằng sự kiên nhẫn và nhiều nỗ lực, tâm sẽ được an định trong Chân Ngã.
26Bất cứ khi nào tâm loạn động, ý niệm phân tán mải tìm kiếm ở ngoài, hãy dẫn nó vào trong; hãy điều ngự để nó an tĩnh trong Chân Ngã. 27Niềm hoan lạc vĩnh phúc tới với những ai mà tâm an tĩnh. Khi thoát mình khỏi ô nhiễm của tự ý chí, thì ý thức được hợp nhất, người ấy trở nên một với Brahman.
28Niềm hoan lạc vô biên khi tiếp xúc với Brahman thì dễ đạt được bởi những ai thoát gánh tội lỗi và an trụ trong tự thân. 29Họ thấy Chân Ngã trong mọi chúng sinh và mọi chúng sinh ở trong Chân Ngã. Bằng ý thức hợp nhất qua thiền định, họ nhìn vạn vật bằng con mắt bình đẳng.
30Ta mãi mãi hiện diện với những người đã chứng ngộ Ta trong vạn vật và thấy mọi sinh linh là thị hiện của Ta, người ấy không bao giờ chia lìa khỏi Ta. 31Họ thờ phụng Ta trong trái tim của tất cả, và mọi hành động của họ nảy sinh từ Ta. Cho dù sống ở đâu đi nữa họ đều an trú trong Ta.
32Khi một người đáp ứng những niềm vui hay khổ đau của tha nhân như thể của chính mình, người ấy đã đạt được trạng thái kết hợp tâm linh toàn thiện.
Arjuna
33Thưa Krishna, sự tĩnh tịch trong kết hợp tâm linh thần thánh mà ngài miêu tả quả là vượt ngoài tầm lĩnh hội của tôi. Làm sao tâm vốn rất bất an lại đạt được sự an định lâu dài được? 34Tâm thì bất an, xao động, mạnh mẽ, hung bạo; cố kiểm soát nó chẳng khác gì chế ngự trận cuồng phong.
Krishna
35Quả là tâm trí luôn bất an và khó chế ngự. Arjuna ơi, nhưng có thể chinh phục nó bằng tu tập thường xuyên và bằng buông xả. 36Người không tự chủ được sẽ thấy khó tinh tấn trong thiền định; còn người tự chủ và nỗ lực thành tâm bằng phương pháp đúng đắn thì sẽ thành tựu.
Arjuna
37Thưa Krishna, vậy còn người có niềm tin nhưng lại thiếu tự chủ và bị lạc đường, vì thế không thành tựu đạo yoga thì sao? 38Nếu y bị mê lầm trên con đường tâm linh, liệu y có đánh mất sự nương tựa ở cả hai thế giới, như đám mây tan tác trên trời? 39Krishna hỡi, xin người xua tan mọi hoài nghi; hãy cất đi mối nghi ngờ đeo đẳng tôi.
Krishna
40Arjuna, hỡi con trai của Partha, một người như thế sẽ không bị tiêu vong đâu. Chẳng ai làm điều tốt mà gặp kết cục xấu bao giờ, dù ở thế giới này hay thế giới mai sau.
41Những người như thế khi qua đời thì sang cõi của bậc công chính. Họ ở đó vô số năm và rồi tái sinh vào một gia tộc thanh bạch và phú quý. 42Hoặc có thể sinh vào một gia đình thuộc bậc trí giả; và được sinh vào một gia đình như thế là hiếm có. 43Này Arjuna, trí tuệ mà họ đã thủ đắc ở kiếp trước sẽ thức tỉnh lại, và họ sẽ nỗ lực hơn để đạt tới chứng ngộ Chân Ngã. 44Quả vậy, họ sẽ được dẫn dắt bởi nỗ lực từ những tu hành trong kiếp trước của mình. Ngay cả người khát khao cầu vấn đạo yoga cũng vượt trên những người chỉ thực hành những điển lễ.
45Bằng nỗ lực tu tập không ngừng qua nhiều kiếp, một người được thanh tẩy mọi dục vọng vị kỉ và rồi cũng đạt tới mục đích tối thượng của đời sống.
46Thiền định yoga thì cao hơn tu
khổ hạnh, cũng cao hơn con đường tri thức và cũng cao hơn phụng sự vô ngã. Bởi
thế, Arjuna, hãy đạt tới mục đích thiền định! 47Ngay cả người thiền định dù nam hay nữ mà phụng sự Ta
bằng đức tin vẹn toàn, và toàn tâm trú ngụ trong Ta, người ấy là thiền giả yoga vững vàng nhất.
*
CHƯƠNG 7
Trí tuệ và chứng
ngộ
Krishna
1Này Arjuna, toàn tâm toàn tâm trí ngươi hãy đặt vào
Ta, và tĩnh toạ tu trì yoga. Hết lòng
trông cậy vào Ta. Hãy nghe đây, Ta sẽ xua tan mọi hoài nghi của ngươi; ngươi sẽ
hiểu biết Ta trọn vẹn và được hợp nhất với Ta.
2Ta sẽ cho ngươi biết về cả jnana lẫn vijnana. Khi đã hiểu cả hai điều này, thì không còn gì để ngươi cần biết nữa.
3Trong muôn ngàn người may ra có một người kiếm tìm thành tựu viên mãn, nhưng trong số ấy chỉ có một vài người đạt được sự toàn thiện và biết rõ về Ta. 4Đất, nước, lửa, gió, khí ether (akasha), tâm, tuệ, và bản ngã – là tám nguyên tố của bản tính prakriti của Ta. 5Nhưng ngoài chúng ra, Ta còn có một bản tính khác, bản tính siêu việt hơn, Arjuna hỡi, nó nâng đỡ toàn thể vũ trụ và là nguồn sống của mọi chúng sinh. 6Trong bản tính hai mặt này của Ta là tử cung sinh ra vạn vật. Bởi Ta là sự sinh thành và huỷ diệt thế giới này. 7Arjuna hỡi, không có gì cao hơn Ta, mọi thứ gắn liền với Ta, cả vũ trụ đeo vào ta như chuỗi châu ngọc.
8Này Arjuna, Ta là vị tinh tuyền của nước và hào quang của mặt trời, mặt trăng. Ta là âm tiết thiêng liêng [AUM trong kinh Veda], là âm thanh trong không trung, và là dũng khí của con người. 9Ta là mùi thơm của đất và rạng rỡ của lửa; Ta là sự sống của mọi tạo vật và là nỗ lực của người tu hành.
10Arjuna hỡi, Ta là hạt giống vĩnh cửu của mọi tạo vật. Ta là trí tuệ của bậc trí giả, và sự huy hoàng của bậc quý phái. 11Ta là sức mạnh của kẻ dũng khí đã thoát khỏi dục tình và chấp thủ vị kỉ. Ta là dục vọng tự thân, nếu dục vọng ấy hoà hợp với đạo lí sống.
12Những trạng thái tồn tại dù là sattvika (thuần khiết), rajas (tham dục), tamas (vô minh) đều đến từ Ta, nhưng Ta không ở trong chúng. 13Ba phẩm tính guna ấy làm mê hoặc thế gian khiến nhiều người không nhìn thấu qua để thấy được Ta, là đấng tối thượng và bất diệt. 14Ba phẩm tính này tạo nên quyền năng maya (ảo hoá) thần thánh của Ta, thật khó vượt qua. Nhưng những ai tìm an trú trong Ta thì vượt qua lưới ảo hoá này. 15Còn những kẻ bị maya mê hoặc, làm điều ác, họ không sẵn lòng tận hiến Ta, và bởi đánh mất sự sáng suốt, họ mải mê theo con đường thấp hèn của mình.
16Những người thiện hảo tôn thờ Ta, chia thành bốn hạng (hay bốn giai đoạn): trước tiên là người chịu khổ nạn, tiếp đến là người mong cầu tri thức, rồi là người khát cầu chân lí, cuối cùng là bậc trí giả 17Cao quý hơn cả trong số họ là bậc trí giả với lòng kiên định tận hiến cho Ta và luôn hợp nhất với Ta. Y rất mực yêu quý Ta, và Ta cũng rất yêu mến y. 18Tất cả những người đi theo con đường tâm linh đều được chúc phúc. Nhưng bậc trí giả thì luôn luôn an trú trong sự hợp nhất vì xem Ta là mục tiêu tối cao, mà Ta xem người ấy như chính bản thân Ta.
19Sau nhiều kiếp, bậc trí giả tìm thấy sự an trú trong Ta, ngộ thấy rằng Ta ở mọi nơi và trong vạn vật. Những linh hồn cao cả như vậy rất hiếm thấy. 20Còn những kẻ khác mà lí trí của họ để cho dục vọng che lấp. Họ tuân theo tính tình của mình, sùng bái những vị thần hạ đẳng, và thực hành các loại nghi thức tế tự.
21Khi một kẻ thờ phượng dù bằng hình thức nào, miễn là với tín tâm hết mực, thì Ta làm cho đức tin của y hợp nhất. 22Và khi đức tin của y đã hợp nhất hoàn toàn, y đạt được mục tiêu thờ phượng. Như vậy, mọi ước nguyện thành tựu là do chính Ta ban. 23Những kẻ hiểu biết hạn hẹp thì chỉ đạt được thoả mãn nhất thời: những kẻ sùng bái chư thiên thì đến với chư thiên. Còn những kẻ sùng mộ Ta thì đến với Ta.
24Những kẻ vô minh cho rằng Ta, vốn là đấng Vô Thị hiện, đã mang lấy một số nhục thân. Họ không nhận ra bản thể đích thực của ta là bất sinh và bất diệt. 25Không phải ai cũng nhìn xuyên qua được tấm màn ảo hoá maya ấy. Thế gian bị huyễn hoặc không biết rằng Ta bất sinh và bất biến. 26Này Arjuna, Ta biết hết thảy về quá khứ, hiện tại, và tương lai; nhưng chẳng ai hoàn toàn biết đượcTa.
27Arjuna hỡi, ảo tưởng sinh ra do nhị nguyên của yêu và ghét; mọi chúng sinh bị những điều nay lừa dối ngay từ khi sinh ra. 28Nhưng những ai đã tự mình thoát khỏi những việc xấu thì được an trú vững vàng khi phụng thờ ta hết lòng. Những hành động của họ thì thuần khiết, và thoát khỏi ảo tưởng gây ra do những đối lập nhị nguyên.
29Những người nào nương náu nơi Ta, muốn thoát khỏi cảnh lão và tử, sẽ được
biết đấng Brahman, Chân Ngã, và bản chất của mọi hành động. 30Những người thấy Ta cai trị
vũ trụ, thấy Ta là đấng Tối cao (Adhibhuta),
đấng chúa tể chư thần (Adhidaiva), và
đấng chủ hiến tế (Adhiyajna), thì đều
ý thức toàn vẹn về Ta ngay cả lúc lâm chung.
*
CHƯƠNG 8
Thần tính vĩnh hằng
Arjuna
1Hỡi Krishna, Brahman là gì, và bản chất của hành động (karma) là gì? Linh hồn (adhyatma), vũ trụ vật chất (adhibhuta),cõi thần linh (adhidaiva) là gì? 2Sự hiến sinh tối cao (adhiyajna) là gì và được hiến tế ra sao? Làm thế nào người chế ngự bản thân được hợp nhất với ngài vào lúc lâm tử?
Krishna
3Bản thể tối cao của Ta, là Brahman bất diệt, ban cho mỗi chúng sinh sự hiện hữu và là linh hồn (adhyatma) sống trong mỗi chúng sinh. Hành động (karma) của ta là sáng tạo và sinh ra mọi tạo vật. 4Vũ trụ vật chất (adhibhuta) là thân thể khả diệt; cõi thần linh (adhidaiva) là Purusha, Tinh thần vĩnh hằng. Sự hiến sinh tối cao (adhiyajna) được thực hiện tới Ta là đấng Chí Tôn ở bên trong ngươi.
5Người nào nhớ đến Ta vào giờ lâm tử thì sẽ đến với Ta. Chớ hoài nghi việc này. 6Bất kể điều gì tâm trí bận tâm lúc chết sẽ quyết định điểm tới của người lâm chung; luôn luôn người ấy sẽ hướng tới trạng thái tồn tại đó. 7Vì thế, hãy nhớ tới Ta mọi lúc và hãy chiến đấu. Khi tâm và trí ngươi hướng tới Ta, ngươi nhất định sẽ đến được với Ta. 8Khi tâm trí trí ngươi trụ nhất điểm qua thiền định thường xuyên, ngươi sẽ tìm thấy vinh quang tối thượng của đấng Chí Tôn.
9Đấng Chí Tôn là thi nhân tối thượng, nguyên nhân đệ nhất, chúa tể vạn vật, tế vi hơn hạt nguyên tử, đấng phù trợ vạn vật, bất khả tư nghị, huy hoàng như mặt trời, và siêu việt bóng tối. 10Hãy tưởng nhớ tới ngài theo cách này vào giờ lâm tử, nhờ tận hiến và sức mạnh thiền định, dốc tâm định tĩnh, chú tâm chú mục vào trung tâm linh thức giữa hai chân mày, ngươi sẽ tới được với đấng Chí Tôn.
11Giờ Ta sẽ tóm tắt cho ngươi về cảnh giới vĩnh hằng mà mọi thánh thư đã xác nhận, và chỉ có thể đi vào đó bởi người đã tự chủ và thoát khỏi những ham muốn vị kỉ. Những người đã sống tận hiến cho Brahma thì đạt được mục tiêu tối cao này.
12Hãy tưởng nhớ Ta vào giờ lâm tử, đóng lại mọi cánh cửa giác quan và đặt tâm trí vào trong tim. Rồi khi đã chìm vào quán tưởng, dồn mọi khí lực lên trên đầu. 13Trong trạng thái ấy, lập đi lập lại danh tự thần thánh là âm tiết Om hình dung cho đấng Brahman bất biến, ngươi sẽ rời khỏi thân thể và đạt tới mục tiêu tối cao.
14Người nào luôn nhớ tới Ta và không bị trói buộc vào điều gì khác thì dễ dàng đến được với Ta. Này Arjuna, người ấy là một yogi đích thực. 15Những linh hồn cao quý đó đã hoàn thiện kiếp sống của mình và phát hiện ra Ta; họ được giải thoát khỏi tử vong và sự đau khổ của cõi sống này. 16Mọi chúng sinh trong thế giới này đều phải chịu tái sinh, ngoại trừ người nào đã hợp nhất với Ta.
17Người hiểu đạo vũ trụ thì biết rằng một Ngày của Brahma bằng một ngàn yuga và một Đêm của Brahma chấm dứt sau một ngàn yuga. 18Khi Ngày của Brahma bắt đầu rạng, mọi hiển hiện (vyaktayas) được loé ra từ cái Bất-hiển-hiện (Avyaktat); khi Đêm của Brahma buông xuống, mọi hiển hiện lại hoà nhập về với cái Bất-thị-hiện. 19Vô số hữu thể này cứ được sinh ra rồi lại bị huỷ diệt liên tục theo ngày ngày và đêm đêm của Brahma. 20Nhưng siêu vượt trạng thái vô biểu sắc này còn có một thực tại bất hiển hiện khác vĩnh cửu và không tan biến khi vũ trụ bị huỷ diệt. 21Những người nào nhận ra được mục đích tối thượng của cuộc đời rằng Ta là đấng Bất-thị-hiện và bất biến. Khi đã về nhà với Ta, họ sẽ không còn trở lại với cõi phù sinh nữa.
22Đấng Chí Tôn tràn ngập hết thảy vạn vật, là Chân Ngã của hết thảy chúng sinh, và chỉ có thể tới được nhờ toàn tâm phụng hiến. 23Arjuna hỡi, có hai con đường mà linh hồn có thể đi theo vào lúc lâm tử. Một con đường dẫn tới tái sinh và con đường kia dẫn tới giải thoát.
24Sáu tháng về phía bắc của mặt trời, con đường của ánh sáng, của lửa, của ban ngày, của trung tuần sáng vằng vặc, dẫn những người thấu hiểu Brahma đi tới mục đích tối thượng. 25Sáu tháng về phía nam của mặt trời, con đường mây mù, của đêm, của trung tuần khuyết ám, dẫn những linh hồn tới ánh trăng và để tái sinh.
26Hai con đường ánh sáng và bóng tối này đều là vĩnh cửu, dẫn người
này tới giải thoát và dẫn người khác tới tái sinh. 27Hỡi Arjuna, khi nhận biết được hai con đường này,
ngươi chẳng còn bị huyễn hoặc nữa. Hãy đạt tới tri thức này bằng sự dốc tâm
trong yoga. 28Có công đức qua việc nghiên cứu kinh sách, nhờ phụng sự
vô ngã, theo giới hạnh, và bố thí, nhưng thực hành thiền định thì khiến ngươi
vượt qua mọi thứ đó để tới cõi vô thượng của đấng Chí Tôn.
*
CHƯƠNG 9
Vương đạo
Krishna
1Bởi ngươi có đức tin, Ta sẽ nói cho ngươi biết về
những bí ẩn uyên áo nhất: có được cả jnana (trí tuệ cao) và vijnana (tri
thức) để ngươi thoát khỏi mọi điều xấu.
2Tri thức vương đạo này, mật truyền vương đạo này là
sự thanh tẩy tối cao. Là chính đáng và bất diệt, nó tràn đầy niềm vui khi thực
hành và được kinh nghiệm trực tiếp. 3Hỡi
Arjuna, còn những kẻ không tin vào quy luật tối thượng của đời sống sẽ chẳng thấy
được Ta. Họ sẽ trở lại thế gian để mãi cuốn vào vòng sinh tử.
4Ta tràn ngập toàn thể vũ trụ trong hình tướng bất thị hiện. Hết thảy mọi chúng sinh tìm thấy sự tồn tại trong Ta, nhưng Ta không bị giới hạn bởi chúng. 5Hãy chiêm ngắm sự mầu nhiệm linh thánh của Ta! Mọi tạo vật này không thật sự ở trong Ta, mặc dù Ta sinh ra chúng và phù trì chúng, nhưng Ta không bị hạn chế ở trong chúng. 6Chúng di chuyển trong Ta như những cơn gió di chuyển mọi hướng trong không gian bầu trời.
7Ở cuối mỗi thời kì, mọi tạo vật này trở về lại với bản chất bất thị hiện; ở khởi đầu của chu kì kế tiếp, Ta lại tạo ra chúng một lần nữa. 8Khi kiểm soát vũ trụ vật chất (prakriti) của mình, Ta liên tục sinh ra những thứ muôn hình vạn trạng này và chúng tuân theo quy luật của bản chất tự nhiên. 9Arjuna hỡi, Ta không bị trói buộc vào những hành động này. Ta không bị ràng buộc với chúng, vì thế chúng không động tới bản tính của Ta.
10Dưới mắt giám sát của Ta, mọi quy luật tự nhiên đi theo dòng của chúng. Như vậy, thế giới khởi sự xoay vần; như vậy, mọi loài chuyển động và bất động được tạo ra.
11Kẻ ngu muội không nhìn ra khỏi hình tướng bên ngoài để thấy bản thể Ta là Chúa tể muôn loài. 12Kiến thức của những kẻ khiếm thị ấy là viễn vông; đời sống của họ đầy dẫy tai hoạ và xấu xa, còn việc làm và những hi vọng của họ hết thảy là vô ích.
13Nhưng những linh hồn cao cả thật sự thì tìm kiếm bản thể linh thánh của Ta. Họ thờ phượng Ta bằng tâm nhất điểm trụ, và chứng ngộ rằng Ta là nguồn mạch vĩnh cửu của mọi tạo vật. 14Họ nỗ lực không ngừng bằng quyết tâm sắt son thờ phụng Ta. Đầy tâm tình phụng hiến, họ ca tụng vinh quang linh thánh của Ta.
15Những người khác đi theo con đường trí tuệ siêu việt (jnana). Họ thấy rằng ở đâu có Một thì cái Một đó là Ta; ở đâu có nhiều, hết thảy là Ta; họ thấy gương mặt ta ở mọi nơi.
16Ta chính là lễ tế và hiến sinh, Ta là linh dược đích thực và là chân ngôn diệu âm (mantram). Ta là lễ vật và ngọn lửa toàn thiêu, và là đấng được hiến tế.
17Ta là cha và mẹ của vũ trụ này, và cũng là tổ phụ của nó; Ta là sự phù trợ của nó. Ta là tổng số của mọi tri thức, quyền năng thanh tẩy, là diệu âm Om; Ta là kinh thánh Veda Rig, Yajur và Sama.
18Ta là mục đích sống, là Chúa tể và đấng phù trì của hết thảy, là nhân chứng nội tại, là nơi ở của hết thảy, là chốn nương náu duy nhất, là bạn chân thành; Ta là khởi nguyên, sự duy trì, là kết thúc của tạo vật; Ta là tử cung và hạt giống bất diệt.
19Ta là sức nóng; Ta giữ và ban mưa xuống. Ta là sự bất tử và Ta là cái chết; Ta là Hữu và Vô. 20Những người theo nghi lễ nêu trong kinh Veda, họ cúng tế và uống nước cam lộ soma, được thanh tẩy khỏi tội lỗi và đạt tới cõi trời thênh thang của chư thần, ở đó họ hưởng những lạc thú thiên đình. 21Sau khi tận hưởng hết những lạc thú trên thiên giới, công đức của họ cạn hết, họ phải quay trở về với cõi sinh tử. Như vậy, việc tuân thủ những nghi lễ Veda vẫn mắc vào vòng luân hồi vô tận của dục vọng, hết đến rồi lại đi. 22Những người nào thờ phượng Ta và không ngừng chiêm niệm Ta, không tơ tưởng nào khác – Ta sẽ ban cho mọi cái họ cần.
23Arjuna hỡi, những người nào thờ phượng những thần linh khác bằng tín tâm và tận hiến, thật ra cũng là thờ phượng Ta, mặc dù chẳng đúng cách. 24Ta là đối tượng của mọi thờ phượng, đấng thụ hưởng và Chúa tể của nó. Thế nhưng những ai không nhận chân được bản tính của Ta tất phải bị tái sinh. 25Những ai thờ phượng chư thiên thì sẽ đến với cõi chư thiên; những ai thờ phượng tổ tiên thì sau khi chết sẽ đoàn tụ với tổ tiên. Những ai thờ phượng quỷ thần thì sẽ trở nên quỷ thần; còn những tín đồ của Ta sẽ đến với Ta.
26Bất cứ thứ gì dâng lên ta với sự tận hiến bằng quả tim thanh khiết – một chiếc lá, bông hoa, trái cây hay chút nước – Ta sẽ đón nhận lễ vật tình yêu ấy. 27Bất kể những gì ngươi làm, hãy biến nó thành lễ vật dâng lên Ta – thực phẩm ngươi ăn, những hiến tế và bố thí, thậm chí cả sự khổ đau của ngươi. 28Bằng cách này, ngươi sẽ được giải thoát khỏi sự trói buộc của karma, và khỏi những kết quả tốt lẫn xấu của nó. Và rồi, kiên định trong yoga và buông xả, khi trái tim ngươi tự do, ngươi sẽ đến được với Ta.
29Ta coi hết thảy chúng sinh đều bình đẳng như nhau; với ta không có gì đáng ghét và không có gì đáng yêu quý hơn. Nhưng những ai thờ phượng Ta bằng tình yêu thì sống trong Ta và Ta sống trong họ.
30Thậm chí những người tội lỗi cũng trở nên bậc thánh khi họ thờ phượng Ta bằng sự quyết tâm. 31Linh hồn của họ sẽ sớm khế hợp với chính pháp (dharma) và họ sẽ đạt được sự an lạc vô hạn. Hỡi Arjuna, chớ bao giờ quên điều này, không ai phụng hiến Ta mà khiến bị tiêu vong bao giờ.
32Người nào an trú trong ta, cho dù thuộc thân phận, chủng tộc,
giới tính, hay đẳng cấp nào, họ cũng sẽ đạt được mục tiêu tối thượng; sự chứng
ngộ này có thể thành tựu ngay cả với những người bị xã hội miệt thị. 33Những bậc vua chúa và những
hiền triết cũng tìm thấy mục đích này qua sự phụng hiến. Vì vậy, khi đã được
sinh ra trong cái thế giới phù du và khổ đau này, hãy hết lòng yêu mến Ta. 34Hãy để tâm trí ngươi tràn
ngập Ta; yêu Ta; phụng sự Ta; thờ phượng Ta. Hãy tìm Ta trong quả tim ngươi, cuối
cùng ngươi sẽ hợp nhất với Ta.
*
CHƯƠNG 10
Sự hiển hoá linh thánh
Krishna
1Này Arjuna, hãy nghe thêm lời dạy tối cao của Ta và nó sẽ mang tới cho ngươi niềm hân hoan. Hỡi tráng sĩ Cánh-tay-dũng-mãnh, vì mong muốn phúc lợi cho ngươi nên Ta sẽ nói tiếp.
2Bất luận chư thần thánh hoặc các hiền giả đều không biết được bản lai của Ta, vì Ta là nguồn cội của mọi chư thần thánh và hiền giả. 3Bất cứ ai biết Ta là Chúa tể của hết thảy tạo vật, là đấng vô sinh và vô thuỷ, khi biết được chân lí này thì tự giải thoát khỏi mọi điều ác.
4Sự biện biệt, trí tuệ, hiểu biết, khoan dung, chân thật, tự tiết chế, và tâm an tĩnh; khổ và lạc, sinh và tử, sợ hãi và vô uý, danh dự và ô danh; 5không bạo động, bố thí, mãn nguyện, và giới hạnh – hết thảy những phẩm chất khác nhau này của mọi chúng sinh đều có cội nguồn ở Ta.
6Bảy vị đại hiền giả rishi và bốn vị thuỷ tổ cổ xưa[1] đều sinh ra từ tâm trí của Ta và đón nhận quyền năng của Ta. Từ họ sinh ra hết thảy mọi chúng sinh trên trần gian này. 7Bất cứ ai hiểu quyền năng của Ta và sự màu nhiệm từ những thị hiện của ta thì chắc chắn được hợp nhất với Ta.
8Ta là cội nguồn của vạn vật từ đó biến hoá. Người thông thái biết điều này mà hết lòng tận hiến và thờ phụng Ta. 9Tâm tư của họ tập trung vào Ta, và mọi sinh khí của họ chảy dồn về Ta. Họ dạy bảo lẫn nhau, luôn nhắc nhớ đến Ta, họ hạnh phúc và viên mãn.
10Với những ai vững bền trong yêu thương và phụng hiến, Ta sẽ ban trí tuệ tâm linh để họ đến được với Ta. 11Bằng sự từ bi, Ta đoạn trừ vô minh của họ. Trong tim họ, Ta thắp lên ngọn đèn trí tuệ để xua tan mọi hắc ám khỏi đời sống họ.
Arjuna
12Ngài là Brahman tối cao, trú xứ vô thượng, đấng tinh tuyền nhất, là đấng tự-quang, thần khí vĩnh hằng, thuỷ tổ của mọi chư thần, đấng vô sinh và vô biên. 13Những bậc đại hiền và những nhà tiên tri – Narada, Asita, Devala, và cả Vyasa – đã tuyên nhận như vậy về ngài; giờ đây đích thân ngài nói với tôi.
14Ôi Krishna, giờ tôi tin mọi điều ngài nói với tôi là chân lí thiêng liêng. Hỡi đấng Chí Tôn, chẳng có thần hay quỷ nào biết được chân tính của ngài. 15Thật vậy, duy chỉ ngài hiểu được tự tính ngài, hỡi Thần khí tối cao. Ngài là cội nguồn của hữu thể và chúa tể muôn loài, Chúa của mọi thần linh, Chúa tể của vũ trụ.
16Xin hãy mô tả cho tôi tường tận mọi thuộc tính linh thánh của ngài. Xin hãy mô tả những vẻ huy hoàng của ngài lan toả khắp vũ trụ. 17Thưa Krishna, ngài là bậc vô thượng sư của yoga. Xin chỉ bảo tôi nên thiền định làm sao để luôn ý thức về ngài. Tôi nên thiền về ngài theo những phương thức nào? 18Thưa Krishna, ngài là đấng khuấy động quả tim con người, xin mô tả chi tiết những thuộc tính và quyền năng của ngài; tôi nghe mãi mà không chán những lời dạy bất hủ của ngài.
Krishna
19Tốt lắm, Arjuna, Ta sẽ biểu lộ cho ngươi những quyền năng linh thánh của Ta, nhưng chỉ về hiện thể huy hoàng nhất mà thôi, vì chúng nhiều vô hạn.
20Arjuna, Ta là Chân Ngã trong lòng của mọi chúng sinh, và Ta là khởi đầu, trung gian, và chung kết của vạn vật.
21Trong số thần linh chói lọi, Ta là Vishnu; trong số quang thể Ta là thái dương; trong số thần bão tố Ta là toàn phong Marichi, giữa đêm tinh tú Ta là mặt trăng.
22Trong số kinh thánh, Ta là tán ca Sama Veda, trong số tiểu thần Ta là lôi thần Indra. Trong số giác quan Ta là minh tâm, còn trong số chúng sinh Ta là dòng ý thức.
23Trong số chư thần Rudra Ta là Shankara (Shiva). Trong số thần tự nhiên Ta là thần tài lộc Kubera, và Ta là thần lửa thanh tẩy Agni. Trong số những ngọn núi Ta là đỉnh Meru.
24Trong số các tế sư Ta là trưởng tư tế Brihaspati, còn trong số các tướng lĩnh Ta là Skanda. Trong số thuỷ vực thì Ta là đại dương.
25Trong số những đại tiên tri Ta là Bhrigu, và trong số ngôn từ Ta là âm Om; Trong mọi lễ tế Ta là thánh danh được tụng niệm, và trong số sự vật bất động Ta là Hi-mã-lạp-sơn.
26Trong số muôn loài cây Ta là cây bồ-đề thiêng (ashvattha); trong số nhạc công thiên thần (gandharva) Ta là Chitraratha. Trong số các tiên tri Ta là Narada, và trong số các bậc thánh triết Ta là Kapila.
27Ta được sinh ra từ tiên tửu bất tử, là con thần mã đầu tiên và cũng là con voi chúa của thần Indra. Trong số loài người Ta là hoàng đế.
28Trong số khí giới Ta là lưỡi tầm sét. Ta là bò chúa Kamadhuk viên mãn mọi ước nguyện; Ta là ái thần Kandarpa của năng lực ái dục, và trong số loài rắn Ta là xà vương Vasuki.
29Ta là con rắn vũ trụ Ananta trong số loài rắn Naga nhiều đầu, và là thuỷ thần Varuna trong số loài thuỷ sinh; trong số các vị tổ tiên Ta là thuỷ tổ Aryaman. Trong số thế lực khống chế, Ta là thần chết Yama
30Trong số dã thú Ta là sư tử; trong số loài chim Ta là thần điểu Garuda. Ta là tín đồ Prahlada trong số loài quỷ, và trong số mọi thước đo, Ta là thời gian.
31Trong số sức mạnh làm cho tịnh khiết Ta là gió; trong số chiến binh Ta là anh hùng Rama. Trong số loài thuỷ ngư Ta là cá sấu (makara), và trong số muôn sông Ta là Hằng Hà.
32Ta là khởi đầu, trung gian, và chung kết của tạo hoá. Trong mọi khoa học Ta là khoa học tri thức về Chân Ngã, và Ta là luận lí học của những nhà biện luận.
33Trong số mẫu tự Ta là A; trong số từ phức hợp Ta là hợp từ đồng đẳng (dvandva). Ta là thời gian vô tận, và là đấng hộ trì muôn mặt đâu cũng là Ta.
34Ta là thần chết ngốn ngấu tất cả, và cũng là cội nguồn của mọi hiện hữu sắp lại được sinh ra. Ta là những phẩm chất nữ tính: danh dự, vẻ đẹp, tài ăn nói, trí nhớ, thông minh, trung kiên, và khoan dung.
35Trong số những tán ca của Sama Veda Ta là Brihat; trong số vận luật Ta là Gayatri. Trong các tháng Ta là tháng Margashirsha (tháng đầu tiên của năm); trong các mùa Ta là mùa xuân nở hoa.
36Ta là trò chơi đỏ đen của những con bạc gian lận; và Ta là ánh huy hoàng của mọi thứ chiếu toả. Ta là nỗ lực, và Ta là sự thắng lợi, và Ta là sự tốt lành của đức hạnh.
37Trong dòng dõi Vrishni Ta là Krishna, còn trong dòng dõi Pandava Ta là Arjuna. Trong số hiền triết Ta là Vyasa, và trong số thi nhân Ta là Ushanas.
38Ta là quyền trượng thực thi hình phạt, và là thuật cai trị của những nhà lãnh đạo. Ta là sự im lặng của cái huyền bí và là trí tuệ của nhà hiền triết.
39Arjuna, Ta là hạt giống trong mỗi chúng sinh; vì không có Ta thì không có gì hiện hữu, dù là sinh vật linh động hay bất động.
40Này Arjuna, những thuộc tính thần thánh của ta thì vô cùng, những gì Ta đã nêu ra chỉ là một số ít. 41 Bất cứ đâu ngươi tìm thấy sức mạnh, hay vẻ đẹp, hoăc sức mạnh tâm linh, thì ngươi có thể chắc rằng chúng nảy sinh từ một tia sáng bản thể Ta.
42Này Arjuna, nhưng ngươi muốn biết tất cả điều này để làm gì? Chỉ
cần nhớ Ta, và chính Ta nâng đỡ toàn bộ vũ trụ này chỉ bằng một mảnh bản thể của
Ta.
*
CHƯƠNG 11
Khải tượng vũ trụ
Arjuna
1Nhờ lòng từ bi, ngài đã dạy cho tôi màu nhiệm tối
thượng về Chân Ngã. Những lời của ngài đã xua tan ảo tưởng của tôi. 2Hỡi đấng có đôi mắt tựa
cánh sen, ngài đã giảng giải về nguồn gốc và chung cục của mọi tạo vật, cũng
như về bản thể trang nghiêm bất diệt của ngài.
3Thưa đấng Chí Tôn, thật đúng như ngài đã mô tả vầng
hào quang vô tận của ngài, giờ đây tôi khao khát được thấy nó. Tôi muốn được
nhìn ngắm dung nhan ngài là chúa tể tối cao của tạo hoá. 4Thưa đấng Chí Tôn, chúa tể yoga, nếu như ngài
cho rằng tôi đủ sức chiêm ngưỡng thì xin hiển lộ cho tôi thấy Đại Ngã vĩnh hằng
của ngài.
Krishna
5Này Arjuna, hãy nhìn xem hàng trăm ngàn hiện thể linh thánh với vô vàn hình trạng và màu sắc. 6Hãy xem dung mạo chư thần của thế giới tự nhiên, và nhiều kì quan chưa từng được mạc khải. Hãy xem toàn thể vũ trụ xoay vần biến hoá bên trong thân thể Ta, cùng những thứ khác mà ngươi muốn thấy. 8Tuy nhiên những điều này không thể nhìn thấy bằng mắt thịt, bởi thế Ta ban cho ngươi một thị kiến siêu linh để trông thấy quyền năng vi diệu của Ta.
Sanjaya
9Nói xong, Krishna, đấng chúa tể yoga đã phơi mở cho Arjuna thấy hiện thể thần thánh vô thượng của ngài.
10Ngài hiện ra với vô vàn gương mặt và trang sức bằng châu báu tuyệt trần, hiển lộ vô tận phép màu và vô kể những khí giới thần thông của ngài. 11Ngài khoác trang phục thiên giới và đeo những tràng hoa, ngào ngạt hương thơm thiên đình, ngài hiển lộ tự thân là vị Chúa tể vô biên, nguồn mạch của mọi kì quan, và gương mặt ngài ở khắp mọi nơi.
12Nếu một ngàn mặt trời cùng một lúc mọc trên các tầng trời, thì ánh sáng rực rỡ chói lọi của chúng tựa như ánh quang huy hoàng của đấng Tối Cao.
13Kìa, bên trong thân thể của Thượng Đế của những thần linh, Arjuna đã nhìn thấy vô vàn những vóc thể của vũ trụ hợp lại thành một. 14Bàng hoàng kinh ngạc, tóc chàng dựng đứng trong cơn xuất thần, chàng sấp mình trước đấng Chí Tôn, chắp tay đảnh lễ và nói.
Arjuna
15Thưa đấng Chí Tôn, tôi nhìn thấy trong thân thể ngài hết thảy các vị thần và mọi loài chúng sinh. Tôi nhìn thấy thần Brahma, đấng Sáng tạo, ngồi trên đoá sen; tôi nhìn thấy những bậc thánh hiền xưa và các thần rắn trời.
16Tôi thấy vô vàn những miệng, những cánh tay, bụng và mắt, và ngài hiện thân trong thiên hình vạn trạng. Tôi thấy ngài ở khắp mọi nơi, không có khởi đầu, giữa, hoặc cuối cùng. Ngài là Chúa tể của mọi tạo vật, còn vũ trụ là thân thể của ngài.
17Ngài đội vương miện, cầm quyền trượng và vòng xoay chánh pháp; ánh hào quang của ngài chói loà và bao la vô hạn. Tôi thấy ngài là đấng quá đỗi khó chiêm ngắm, chiếu toả như mặt trời rực cháy muôn phương.
18Ngài là Thực tại vô thượng và bất biến, là đối tượng duy nhất của tri thức. Ngài là cõi an trú của mọi tạo vật, thánh linh bất diệt, đấng bảo hộ của chính pháp vĩnh hằng.
19Ngài vô thuỷ, vô chung, cũng không có trung gian; ngài chạm tay vào vạn vật bằng quyền năng vô hạn. Mặt trời mặt trăng là đôi mắt ngài, và miệng ngài là lửa: hào quang của ngài sưởi ấm vũ trụ.
20Thưa đấng Chí Tôn, ngài hiện diện chan hoà các tầng trời, dưới trần gian, và mọi hướng. Tôi thấy thập phương thế giới run rẩy trước khải tượng về hiện thể kì diệu và khủng khiếp của ngài.
21Muôn chư thần đi vào hữu thể ngài, một số chắp tay tung hô ngài trong nỗi kính sợ. Những bậc đại thánh hát ngợi khen vinh quang ngài, ‘Nguyện hết thảy được an lành!
22Vô số chư thần, á thần, và quỷ thần choáng ngợp trước cảnh tượng về ngài. 23Hỡi đấng Chí Tôn toàn năng, khi thấy vô vàn những mắt, miệng, tay, chân, bụng và hàm răng khiếp đảm của ngài, tôi và toàn thể thế giới cùng bàng hoàn run sợ.
24Hỡi Vishnu, tôi thấy mắt ngài rực sáng; miệng há rộng, ngài chói ngời muôn sắc màu, và thân thể ngài đụng tận trời cao. Tim tôi lẩy bẩy khi nhìn thấy ngài; tôi mất hết dũng khí và sự bình tâm.
25Khi thấy những miệng ngài với hàm răng khiếp đảm, những cái miệng bốc cháy như lửa ngày tận thế, tôi không còn biết mình đang ở đâu và đi đâu. Hỡi đấng Chí Tôn, ngài là đấng phù trợ thế giới; xin thương xót tôi!
26Tôi thấy tất cả đám con trai của Dhritarashtra; tôi thấy Bhishma, Drona, và Karna; tôi thấy những chiến binh, và tất cả vương hầu đang ở đây để giao chiến. 27Hết thảy họ đang lao vào trong cái hàm khủng khiếp của ngài; tôi thấy một số họ bị hàm răng ngài nghiến nát. 28Như muôn sông đổ vào biển cả, hết thảy những chiến binh của thế gian này cũng đang chìm trôi vào những cái miệng bốc cháy của ngài. 29Hết thảy chúng sinh lao vào tử vong như lũ thiêu thân vun vút lao vào ngọn lửa.
30Hỡi đấng Vishnu, ngài thè lưỡi nuốt chửng mười phương thế giới vào trong vòm miệng cháy rực của ngài. Ánh hào quang khiếp đảm của ngài tràn ngập và toàn bộ vũ trụ bốc cháy.
31Hỡi đấng Chí Tôn với hình thể khiếp đảm, xin cho tôi biết ngài là ai. Tôi kính lễ trước nhan ngài, xin mở lượng từ bi! Tôi mong muốn biết ngài là ai, đấng đã hằng hữu trước khi có vạn vật, vì tôi hoang mang không biết được sứ mệnh của ngài.
Krishna
32Ta là thời gian, đấng huỷ diệt tất cả; ta đến để tiêu huỷ thế giới này. Ngay cả không có sự tham dự của ngươi đi nữa, hết thảy mọi chiến binh tập hợp ở đây cũng sẽ chết.
33Vì vậy, Arjuna, mau đứng dậy; hãy đánh bại kẻ thù của ngươi và thụ hưởng vinh quang của vương quốc. Bởi Ta đã an bài hết thảy những chiến binh này đã bị giết chết rồi; ngươi sẽ chỉ là công cụ của Ta thôi.
34Bhishma, Drona, Jayadratha, Karna, và nhiều người khác đều đã bị Ta tiêu diệt cả rồi. Hãy giết những kẻ mà Ta đã tiêu diệt. Chớ do dự. Hãy chiến đấu trong cuộc chiến này và ngươi sẽ đánh bại mọi kẻ thù.
Sanjaya
35Khi nghe những lời ấy, Arjuna run rẩy sợ hãi. Chàng chắp tay đảnh lễ trước Krishna rồi cất giọng ấp úng.
Arjuna
36Thưa Krishna, thật phải lẽ khi thế giới hân hoan mừng rỡ tụng ca ngài, mọi thánh nhân và hiền giả cúi đầu kính bái trước ngài, còn mọi ác quỷ thì hoảng sợ trốn chạy tứ tán.
37Chẳng có lẽ nào họ lại không thờ phượng ngài, hỡi đấng Chí Tôn? Ngài là thần khí vĩnh hằng, vốn tồn tại trước cả Brahma đấng Sáng tạo và chẳng bao giờ ngừng hiện hữu. Hỡi đấng Chúa tể của mọi thần thánh, ngài là nơi trú ngụ của thế giới. Ngài hằng cửu bất biến, ngài Là cũng vừa Không-Là, và siêu việt nhị nguyên Hữu và Vô.
38Ngài là đấng khởi thuỷ của chư thần, là thánh linh vĩnh cửu, là nơi an nghỉ của mọi chúng sinh. Ngài là đấng tri thức và đối tượng tri thức. Ngài là ngôi nhà cuối cùng; bằng hình tướng vô hạn mà ngài tràn khắp vũ trụ.
39Ngài là Vayu, thần gió; Yama, thần chết; Agni, thần lửa; Vanuna, thần nước. Ngài là mặt trăng và thần sáng tạo Brahma, và thuỷ tổ của muôn loài chúng sinh. Tôi xin đảnh lễ tới ngài muôn vạn lần.
40Tôi xin đảnh lễ ngài phía trước mặt và phía sau; tôi xin đảnh lễ ngài khắp bốn phương tám hướng. Quyền năng của ngài thật vô hạn. Ngài ở khắp mọi nơi; ngài là tất cả.
41Bởi từng là bạn hữu, đã có lúc tôi hấp tấp gọi ngài, ‘Này, Krishna! Nói đi, bạn!’ và những nhận xét bất cẩn, vô ý tứ. Bất kể những điều tôi đã khinh suất nói ra, dù đang khi chúng ta chơi hay nghỉ ngơi, một mình hoặc trong đám bạn bè, ngồi chung hoặc ăn chung, 42Nếu như đó là sự bất kính, xin hãy khoan thứ cho tôi, hỡi Krishna. Tôi đã không biết tới bản thể vĩ đại của ngài, là bất biến và bất diệt.
43Ngài là cha của cả vũ trụ, của loài sinh động và bất sinh động; ngài là mục tiêu của mọi thờ phượng, là đạo sư tâm linh tối cao. Trong ba cõi thế giới chẳng có đấng nào sánh được với ngài. Ai sánh được với quyền năng vô biên của ngài? 44Hỡi đấng Chí Tôn nhân từ, tôi phủ phục trước ngài và xin ngài ban ơn. Như người cha khoan dung cho con, hoặc người bạn với người bạn, hoặc người yêu với người yêu, vì thế xin ngài hãy khoan dung tôi.
45Tôi hân hoan được nhìn thấy hiện thể của ngài mà vốn chưa từng được thấy, thế nhưng tôi kinh sợ trước khải tượng này về ngài như là trú sở của vũ trụ. Xin hãy cho tôi nhìn thấy lại ngài như là vị Thượng Đế quang minh của mọi thần linh. 46Tuy ngài là hiện thân của mọi tạo vật, xin hãy cho tôi thấy lại ngài không phải với ngàn tay mà trong hình tượng với bốn tay, cầm chuỳ và đĩa xoay và đội vương miện.
Krishna
47Này Arjuna, nhờ ân điển của Ta, ngươi được kết hợp với Ta để nhận được khải tượng về hiện thể huy hoàng, vạn hữu, vô thuỷ vô chung của Ta mà chẳng ai khác từng thấy.
48Hỡi Arjuna dũng mãnh, chẳng phải bởi tri thức kinh Veda, hiến tế, bố thí, nghi thức, hoặc bởi khổ hạnh nghiêm cách mà kẻ phàm nào được thấy cảnh tượng ngươi đã thấy.
49Đừng hoảng hốt, đừng khiếp sợ hiện thể của Ta. Hãy để nỗi sợ hãi của ngươi được xua tan và tâm trí ngươi được mãn nguyện khi nhìn thấy lại Ta như trước đây.
Sanjaya
50Nói xong, đấng Chí Tôn một lần nữa khoác lại hình tướng ôn hoà của Krishna để an ủi người tín đồ của ngài đang quá đỗi khiếp sợ.
Arjuna
51Krishna ôi, giờ thấy lại dung mạo ôn hoà của ngài, tâm trí tôi được định thần và trở lại bình thường.
Krishna
52Thật khó có được khải tượng mà ngươi đã thấy; ngay cả các thần linh cũng
hằng mong ước chiêm ngắm Ta trong hiện thể ấy. 53Chẳng phải bằng tri thức Veda, khổ hạnh, bố thí, hay
hiến tế nào có thể giúp mang tới khải tượng mà ngươi đã thấy. 54Arjuna hỡi, nhưng nhờ sự sùng
ái (bhakti) ngươi có thể biết được
Ta, thấy Ta, và được hợp nhất với Ta. 55Những
người nào coi Ta là mục tiêu tối thượng trong mọi công việc và hành động mà
không chấp ngã, thành tâm tận hiến cho Ta và thân ái với mọi chúng sinh, thì họ
cũng sẽ đạt tới Ta.
*
CHƯƠNG 12
Con
đường Sùng ái
Arjuna
1Trong số những người thuỷ chung sùng tín yêu thương ngài so với những người tìm kiếm ngài như Thực tại tuyệt đối vĩnh hằng và bất hiển hiện, loại người nào vững vàng hơn trong yoga?
Krishna
2Những người đặt tâm ý chuyên chú vào Ta, thờ phượng Ta bằng sự phụng hiến với đức tin kiên định, là người vững vàng hơn trong yoga. 3Còn với những người tìm một đấng Tuyệt đối, vô danh, vô hình thể, chiêm nghiệm về đấng Bất-thị-hiện, bất khả tư nghị và vượt ngoài cảm xúc, 4bằng sự chế ngự giác quan, giữ tâm thanh thản và nỗ lực vì lợi ích của tất cả chúng sinh, họ cũng sẽ thực sự đến với Ta.
5Tuy nhiên, con đường tìm tới một đấng Tuyệt đối và Bất-thị-hiện vốn hết sức ngặt nghèo và chậm tiến đối với chúng sinh mang xác phàm. 6Nhưng vì xem Ta là mục tiêu tối thượng, nên họ làm tất cả để từ bỏ bản thân vì Ta và trầm tư về Ta bằng sự nhất tâm phụng hiến, 7những người này Ta sẽ chóng giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, vì ý thức của họ đã nhập vào Ta.
8Hãy dốc tâm trí vào Ta, hãy dồn trí tuệ vào Ta, và chắc chắn ngươi sẽ hợp nhất với Ta mãi mãi. 9Nếu ngươi không thể dồn tâm trí vào Ta, hãy đến với Ta qua việc tu tập thiền định đều đặn. 10Nếu ngươi thiếu ý chí trong việc tu luyện như thế, hãy dấn mình vào công việc của Ta, vì phụng sự vô ngã có thể cuối cùng dẫn ngươi tới thực hiện toàn mãn. 11Ngay cả nếu ngươi không thể làm được điều ấy, hãy phó thác ngươi cho Ta, tự chế ngự và xả bỏ mọi kết quả hành động của ngươi.
12Quả thật, tri thức thì tốt hơn là thực hành một cách máy móc. Tốt hơn cả tri thức là thiền định. Nhưng còn tốt hơn thiền định là từ bỏ chấp trước vào mọi kết quả, bởi từ đó mà lập tức có sự an lạc. 13Người mà Ta yêu thương thì không biết tới sân hận, mà thân thiện và từ tâm, biết sống vượt ngoài vòng cái tôi và của tôi và vượt ngoài khoái lạc và khổ đau, 14biết khoan dung, mãn nguyện, tự chế ngự, đức tin kiên định, bằng trọn vẹn tâm ý và trí lực hướng tới Ta – đó là loại người mà Ta yêu thương.
15Người không khích động thế gian cũng không bị thế gian khích động, người biết vượt lên trên mọi dao động phấn khích, vui, giận, và sợ hãi: đó là người ta yêu quý. 16Người đã vô sự, thuần khiết, đắc lực, công bình, không bất an, vị tha trong mọi đảm đương; họ là tín đồ mà ta rất thương. 17Người mà ta yêu quý thì không bị luỵ vào niềm vui hoặc nỗi đau, không bi thương, không tham dục, mà để cho mọi sự tự tới rồi tự đi.
18Người công bằng với
bạn cũng như thù, không luỵ vào lời khen hay tiếng chê, xem nóng-lạnh như nhau,
xem sướng-khổ như nhau, xem vinh-nhục như nhau, không còn những chấp trước, 19 biết an tĩnh và mãn nguyện
ở mọi nơi với đức tin vững vàng– người đó Ta rất mực yêu thương. 20Những người chuyên chú suy
niệm giáo pháp (dharma) bất diệt này
như ta bày tỏ, lòng tràn đầy đức tin và tìm tới Ta như mục tiêu sống tối thượng
thì thực sự là tín đồ của Ta, là những người được Ta yêu thương vô cùng.
*
CHƯƠNG 13
Cánh
đồng và Người biết
Krishna
1Này Arjuna, thân thể được gọi là cánh đồng (ksetra); người hiểu biết nó được gọi là Người-biết-cánh-đồng (ksetrajna). Đây là tri thức của những người hiểu biết. 2Ajurna hỡi, Ta là Người-biết-cánh-đồng trong mọi người. Tri thức về cánh đồng và về Người biết của nó là tri thức đích thực. 3Hãy nghe Ta giảng về bản tính của cánh đồng và trong nó biến đổi ra sao. Ta cũng sẽ mô tả Người biết cánh đồng và quyền năng của người ấy. 4Những chân lí này đã được các bậc đại hiền ca ngợi bằng nhiều cách khác nhau, và được minh giải trong những lập luận cẩn mật về Brahman.
5Này Arjuna, cánh đồng được tạo thành như sau: năm đại nguyên tố (đất, nước, lửa, gió, khí); năm đối tượng tri giác (sắc, thanh, hương, vị, xúc); năm cơ quan cảm giác (mắt/nhìn, tai/nghe, mũi/ngửi, miệng/nếm, thân/cảm) và năm cơ quan hoạt động (cuống họng, tứ chi, cơ quan bài tiết, và cơ quan sinh dục); và ba thành phần của tâm gồm: manas (nhận thức), buddhi (trí năng/giác), và ahamkara (ngã/cái tôi); và năng lượng không phân hoá mà từ đó mọi thứ tiến triển. 6Từ cánh đồng này phát sinh dục vọng và ác cảm, khoái lạc và thống khổ, thân thể, ý thức, và ý chí.
7Những người hiểu biết thực sự thì không rơi vào kiêu ngạo và lừa dối. Họ khiêm nhường, khoan dung, chính trực, và thuần khiết, tận tuỵ với người thầy tâm linh, tràn đầy nghị lực nội tại, và tự chủ. 8Họ siêu thoát những đối tượng giác quan và ý chí ngã mạn, họ ngộ ra bài học đau đớn của sinh, lão, bệnh, và tử.
9Khi còn không ái chấp, không ràng buộc quyến luyến ngay cả với gia đình, vợ con và nhà cửa. Họ giữ được sự điềm nhiên trước chuyện phúc hay hoạ. 10 Sự phụng hiến của họ với Ta thật trọn vẹn. Họ hân thưởng sự cô tịch và không a dua đám đông, họ tìm kiếm duy nhất Ta. 11Đây là tri thức đích thực, là luôn luôn tìm kiếm Chân Ngã như là cứu cánh thực sự của trí tuệ. Còn tìm kiếm bất cứ điều gì khác là vô minh.
12Ta sẽ nói cho ngươi về nguồn trí tuệ dẫn tới sự bất tử: đấng Brahman vô thuỷ, vốn vượt ngoài lẽ Hữu và Vô.
13Đấng ấy ngụ trong tất cả: tay, chân và đầu, trong miệng, mắt và tai, trong khắp vũ trụ. 14Đấng ấy tự thân không giác quan nhưng chiếu tỏ qua công năng của các đối tượng giác quan. Đấng ấy không quyến luyến, nhưng phù trợ vạn vật. Đấng ấy vượt ngoài tam tính guna nhưng vẫn hân thưởng vở diễn của chúng.
15Đấng ấy vừa gần vừa xa, vừa bên trong vừa bên ngoài mọi chúng sinh; đấng ấy chuyển động và bất động. 16Đấng ấy vi diệu bất khả tư nghị. Đấng ấy bất khả phân, nhưng hiện ra như phân chia trong vạn vật. Hãy biết ấy chính là đấng sáng tạo, đấng bảo tồn, và đấng huỷ diệt
17Ngự trong tim mọi chúng sinh, đấng ấy vượt ngoài bóng tối. Đấng ấy được gọi là ánh sáng của ánh sáng, đối tượng và mục tiêu của tri thức, và là tri thức tự thân.
18Ta đã tiết lộ cho người bản tính của cánh đồng cùng ý nghĩa và đối tượng của tri thức đích thực. Những người phụng hiến cho Ta, biết được những điều này thì được hợp nhất với Ta.
19Hãy biết rằng cả prakriti lẫn Purusha đều không có khởi thuỷ, và chính từ praktiti mà sinh ra các guna và rồi tất cả biến đổi. 20 Prakriti là tác nhân, nguyên nhân và kết quả của mỗi hành động, nhưng chính Purusha được coi như trải nghiệm lạc thú và khổ đau.
21Purusha trú ngụ trong prakriti, chứng kiến vở diễn của các guna sinh ra từ prakriti. Nhưng vì sự quyến luyến vào các guna khiến một người có kiếp sinh tốt hay xấu.
22Purusha tối thượng ở bên trong thân thể đó, chứng kiến, chấp thuận, phù trợ, hân hưởng, là Chúa Tể tối thượng, là Chân Ngã tối cao.
23Bất cứ ai nhận thức được chân tính của Purusha, praktiti, và các guna, thì dù người ấy đi theo con đường nào sẽ không phải tái sinh trở lại.
24Một số người nhận thức được Chân Ngã bên trong họ nhờ thiền định, một số người khác bằng con đường trí tuệ, và một số khác bằng phụng sự vô ngã. 25Còn những người khác không biết tới những con đường ấy, nhưng nhờ nghe được và tuân theo chỉ giáo của một minh sư, họ cũng thoát khỏi vòng sinh tử.
26Này Arjuna, bất cứ sự vật nào tồn tại dù có đời sống hay không có đời sống, đều được sinh ra từ sự kết hợp của cánh đồng và Người biết. 27Chỉ người nào thấy đấng Chí Tôn cư ngụ bình đẳng trong mọi chúng sinh, người ấy quả thật thấy được sự bất tử trong tim muôn loài phù sinh. 28Khi thấy đấng Chí Tôn ở khắp mọi nơi, người ấy sẽ không làm phương hại đến bản thân hoặc người khác. Vì thế mà người ấy đạt được mục tiêu tối thượng.
29Chỉ những người thấy mọi hành động đều do prakriti tạo ra, còn Chân Ngã vẫn vô vi bất động, họ là người thực sự biết chân lí. 30Khi họ thấy sự đa dạng của tạo vật bắt nguồn từ nhất thể và tăng trưởng từ đó, họ đạt được viên mãn trong Brahman.
31Chân Ngã vô thượng này không có khởi thuỷ, bất biến, và bất tử. Arjuna, tuy nó ngụ trong thân thể, nó không không hành động cũng không bị hành động chạm vào được. 32Như ashaka (khí ether) tràn nhập khắp vũ trụ nhưng không bị ô trược, Chân Ngã chẳng hề bị ô trược dù nó ngụ trong mọi chúng sinh.
33Như mặt trời thắp sáng thế giới, Chân Ngã cư ngụ trong cánh đồng là nguồn của mọi ánh sáng trong cánh đồng. 34Những ai bằng tuệ nhãn mà biện biệt được cánh đồng với Người biết và thoát khỏi trói buộc của prakriti, thì đạt tới cảnh giới vô thượng.
*
CHƯƠNG 14
Những lực
lượng tiến hoá
Krishna
1Ta sẽ nói thêm cho ngươi về trí tuệ siêu việt mọi tri thức, nhờ đó mà các bậc thánh và hiền giả đã đạt tới cảnh giới toàn thiện. 2Những ai nương cậy vào trí tuệ này sẽ được hợp nhất với Ta, và họ chẳng còn bị tái sinh cũng chẳng còn sợ cái chết.
3Tử cung của Ta là prakriti; trong đó Ta đặt hạt giống. Vì thế mọi tạo vật được sinh thành. 4Arjuna hỡi, vạn vật sinh ra từ tử cung của prakriti, và Ta là người cha ban hạt giống.
5Đấy là ba phẩm tính guna được sinh ra từ prakriti – sattva, rajas, và tamas – ràng buộc Chân Ngã bất tử vào với thân thể. 6Sattva – thuần khiết, sáng láng, và thoát khỏi nghiệp chướng – ràng buộc chúng ta vào với sự quyến luyến hạnh phúc và trí tuệ. 7Rajas là dục tình, nảy sinh từ ham muốn vị kỉ và chấp thủ. Những thứ này trói buộc Chân Ngã vào hành động thôi thúc. 8Tamas, sinh ra từ vô minh, huyễn hoặc tất cả mọi chúng sinh thông qua sự lơ là, lười biếng, và giấc ngủ.
9Sattva buộc chúng ta vào hạnh phúc; rajas buộc chúng ta vào hành động. Tamas làm méo mó sự hiểu biết và giam chúng ta vào ảo tưởng.
10Sattva chiếm ưu thế khi rajas và tamas được chuyển hoá. Rajas thắng thế khi sattva yếu và tamas chế ngự. Tamas thắng thế khi rajas và sattva ngủ yên.
11Khi sattva chiếm ưu thế thì ánh sáng trí tuệ chiếu rọi qua mọi cánh cổng của thân thể. 12Khi bị rajas ngự trị thì người ta theo đuổi những cứu cánh vị kỉ, tham lam, luôn bồn chồn và ham muốn. 13Khi tamas ngự trị thì người ta sống trong tối tăm, biếng nhác, hỗn độn và dễ mê đắm.
14Những ai chết trong trạng thái sattva thì đạt tới cõi thanh tịnh của bậc đại trí. 15Những ai chết trong rajas thì lại tái sinh trong số những người bị công việc chi phối. Còn những ai chết trong tamas thì đầu thai vào trong tử cung của kẻ ngu muội.
16Kết quả của những việc làm thiện là thuần khiết và là sattva. Kết quả của rajas là khổ đau. Kết quả của tamas là ngu muội và vô cảm.
17Từ sattva sinh ra sự hiểu biết; từ rajas sinh ra sự tham lam. Nhưng hậu quả
của tamas là hỗn loạn, đắm đuối, và
ngu muội.
18Ai sống trong sattva thì đi lên cõi cao; ai sống trong rajas thì vẫn ở lại cõi đang ở. Còn ai đắm mình trong tamas thì chìm xuống cõi thấp.
19Bậc trí tuệ nhìn thấy rõ mọi hành động là công việc của những guna. Biết rằng có đấng vượt trên cả những guna, người ấy đi vào kết hợp với Ta.
20Khi vượt xa ngoài ba guna tạo thành cơ thể vật chất, thì người ấy thoát khỏi khổ đau của chu kì sinh, lão, bệnh, tử, và đạt tới bất tử.
Arjuna
21Thưa đấng Chí Tôn, biểu hiện đặc trưng của những người đã vượt ra ngoài những guna thì như thế nào? Họ hành động ra sao? Làm thế nào họ vượt được ra ngoài sự giam cầm của những guna?
Krishna
22Người ấy không bị dao động bởi sự hài hoà của sattva, bởi hoạt động của rajas, hoặc bởi sự huyễn hoặc của tama. Người ấy không thấy ác cảm khi những thế lực này hoạt động, cũng như không mong mỏi khi chúng lắng xuống.
23Họ vẫn giữ được tính không thiên vị và bình tịnh dù dưới những tác động của guna. Vì họ biết rằng đó chính là những guna đang tác động, cho nên họ trú ngụ ở bên trong tự thân và không bị chao đảo.
24Khi đã vững vàng bên trong tự thân, họ xem sướng và khổ, khen và chê, hoặc sự tử tế và tàn nhẫn chẳng khác nhau. Họ xem hòn đá, cục đất hay thỏi vàng cũng như nhau. 25Xem vinh hay nhục như nhau, bạn hay thù như nhau, họ đã từ bỏ mọi sự theo đuổi vị kỉ. Những người như thế đã vượt ra ngoài những guna.
26Người
nào phụng sự Ta với lòng sùng ái kiên tâm, người ấy sẽ vượt qua những guna, và được hợp nhất với Brahman. 27Vì Ta là đấng phù trợ của
Brahman, đấng vĩnh cửu, đấng bất biến, đấng bất tử, là đạo pháp (dharma) bất diệt, cội nguồn của mọi hạnh
phúc.
*
CHƯƠNG 15
Chân
Ngã vô thượng
1Những nhà hiền triết kể về cây đa (ashvattha) bất tử với rễ cọc ở trên còn cành thì đâm xuống dưới. Lá cây là những bài thánh ca Veda; người biết cội nguồn cây này thì biết được Veda.
2Cành nhánh của cây ấy vươn lên rồi chúc xuống, được nuôi dưỡng bằng tam tính guna. Những đối tượng giác quan mọc chồi trên những cành nhánh; rễ thòng xuống trói buộc chúng ta vào hành động trần thế.
3Hình dạng thật sự của cây – đâu là bản chất, khởi đầu và kết thúc của nó – thì không thể biết được trên trần gian. Hãy chặt đứt cái cây bám rễ mạnh mẽ này bằng cây rìu sắc của tâm xả li; 4rồi sẽ thấy được con đường mà những người đạt tới không bao giờ quay trở lại, và hãy tới an trú nơi Đấng Khởi Nguyên mà từ đó vũ trụ tạo sinh tự cổ xưa.
5Không bị mê hoặc bởi kiêu ngạo, thoát khỏi chấp trước và dục vọng vị kỉ, ra khỏi nhị nguyên đối lập của khoái lạc và khổ đau, chuyên chú vào Chân Ngã, người trí tuệ đạt tới cảnh giới vĩnh cửu. 6Chẳng mặt trăng mặt trời nào chiếu tới được nguồn sáng ấy. Đây là nơi trú ngụ tối thượng của Ta, mà những ai đã đi vào thì không quay trở lại nữa.
7Một phần tự tính vĩnh hằng của Ta đi vào thế gian, mang lấy những năng lực của hành vi, tri giác và một tâm trí tạo ra từ prakriti. 8Khi Chân Ngã linh thánh đi vào và khi rời bỏ thân thể, nó đem theo những thứ này như gió mang theo mùi hương. 9Khi dùng sáu giác quan là tâm trí, tai, mắt, mũi, vị giác và xúc giác, Chân Ngã tận hưởng những đối tượng giác quan.
10Người mù quáng không nhìn thấy Chân Ngã khi nó rời bỏ thân thể hoặc khi nó cư ngụ bên trong. Họ không thấy được Chân Ngã tận hưởng những đối tượng giác quan hoặc tác động qua những guna. Nhưng những ai có tuệ nhãn thì thấy được.
11Những ai kiên tâm và tinh tấn trên con đường yoga thì nhìn thấy Chân Ngã bên trong, còn kẻ ngu muội thiếu nỗ lực thì không thấy được.
12Ánh mặt trời thắp sáng thế gian, ánh trăng, cho tới ánh lửa – hết thảy đều sinh từ hào quang của Ta. 13Bằng một giọt năng lượng của Ta, Ta đi vào thế gian và phù trợ hết thảy chúng sinh. Qua mặt trăng, chiếc bình đầy dưỡng chất ban đời sống, ta nuôi nấng muôn loài thảo mộc. 14Ta đi vào mọi chúng sinh hít thở và ở trong làn hơi thở ban sự sống. Ta là lửa tiêu hoá mọi thức ăn trong thân thể chúng sinh.
15Ta đi vào trong tâm mỗi chúng sinh và ban năng lực kí ức và sự hiểu biết; cũng chính Ta lại cất đi năng lực đó. Tất cả kinh điển đều dẫn tới Ta; chính Ta là tác giả và là trí tuệ của kinh điển Veda.
16Trong thế giới này có hai loại hữu thể: chúng sinh dễ bị huỷ diệt, và tinh thần bất khả diệt. 17Nhưng vượt trên cao hai loại ấy là đấng Chân Ngã vô thượng, là Chúa tể vĩnh hằng, đấng ấy nhập vào khắp vũ trụ và phù trợ từ bên trong.
18Ta chính là Chân Ngã vô thượng mà Kinh Veda thường tôn vinh là siêu vượt cái biến đổi lẫn cái không biến đổi. 19Những ai thấy Ta trong Chân Ngã vô thượng là đã thấy thực sự. Này Arjuna, họ đã tìm ra nguồn của mọi trí tuệ, và toàn tâm phụng sự Ta.
20Này Arjuna, Ta đã
bộc lộ chân lí sâu xa này cho ngươi. Những ai ngộ ra điều này thì đạt được trí
tuệ và thành tựu viên mãn.
*
CHƯƠNG 16
Hai
con đường
1Không sợ hãi và thanh khiết; chuyên tâm tận hiến cho đời sống tâm linh. Bố thí, chế ngự giác quan, chân thành, chính trực, thương yêu, và ham muốn phụng sự, học tập kinh điển; học cách buông bỏ và hỉ xả. 2Không phẫn nộ và không bạo lực, từ ái và khiêm cung; bày tỏ thiện ý với hết thảy chúng sinh. 3Trau dồi nghị lực, khoan dung, ý chí, khiết tịnh; không ác ý và kiêu ngạo. Như vậy, Arjuna, ngươi sẽ đạt được phẩm tính thần thánh.
4Arjuna, những tính chất khác khiến một người trở nên bất nhân hơn: giả đạo đức, ngạo mạn, giận dữ, tàn bạo, ngu muội. 5
5Những phẩm chất thần thánh dẫn tới tự do; phẩm chất ác quỷ dẫn tới nô lệ. Này Arjuna, chớ đau buồn; ngươi được sinh ra với những thuộc tính thần thánh.
6Có loại người mang thiên hướng thần thánh, loại kia mang thiên hướng ác quỷ. Arjuna hỡi, Ta đã mô tả chi tiết loại người thần thánh; giờ hãy nghe Ta mô tả loại người ác quỷ.
7Loại người ác quỷ làm những điều nên tránh và họ tránh những điều nên làm. Họ không thấy đâu là sự chính trực, thanh khiết, hay lẽ phải.
8Họ nói, ‘Không có Thượng Đế, không có lẽ phải, không có luật nhân quả, không có trật tự đạo lí nào. Nguyên nhân tạo ra đời sống là tính dục; ngoài ra chẳng còn gì khác.’
9Vì tư duy ngoan cố và méo mó như thế, linh hồn của họ sa đoạ vì trí lực bạc nhược, họ trở thành kẻ thù của thế gian, gây ra đau khổ và huỷ diệt. 10Thói giả đạo đức, tự hào, và cao ngạo, sống trong ảo tưởng và bám vào những quan niệm huyễn hoặc, những dục vọng vô độ, họ theo đuổi những cứu cánh nhơ bẩn.
11Dù ám ảnh với nỗi sợ cái chết là chấm dứt, họ vẫn tin tuyệt đối, ‘Thoả mãn tham dục là điều cao nhất mà cuộc đời đem lại.’ 12Bị vô số những trói buộc do mưu đồ và bất an, do giận dữ và lòng tham thúc đẩy, bằng mọi cách họ tích luỹ của cải để thoả cơn thèm khát. 13Họ nói, ‘Hôm nay tôi có được cái này, ngày mai tôi sẽ có thêm cái nọ.’ Của cải này là của tôi, của cải kia cũng sẽ là của tôi. 14Tôi đã tiêu diệt kẻ thù của mình. Tôi cũng sẽ tiêu diệt những kẻ khác! Tôi há chẳng giống Thượng Đế sao? Tôi tận hưởng những gì mình muốn. Tôi thành công. Tôi quyền thế. Tôi hạnh phúc. 15Tôi giàu có và sinh ra trong quyền quý. Ai bằng được như tôi? Tôi cúng tế và ban phát, và vui sướng trong sự rộng lượng của mình.’ Đó là cách mà những kẻ bị huyễn hoặc vì ngu muội. 16Do lòng tham trói buộc và mắc vào lưới vọng tưởng, tâm trí mê trầm, cho nên họ rơi vào một địa ngục tối tăm.
17Tính tự cao tự đại, ngoan cố, và cuốn theo lòng kiêu hãnh vì giàu có, họ thực hiện những lễ cúng tế để phô trương mà không có bất kì mục đích giới hạnh nào. 18Vì tính ích kỉ, ỷ vào sức mạnh, kiêu ngạo, tham dục, giận dữ, đố kị, và vì họ đã báng bổ sự hiện diện của Ta trong thân thể họ và trong thân thể những chúng sinh khác.
19Cho nên, hết kiếp này đến kiếp khác, Ta ném đi những kẻ hiểm ác, sân hận, tàn bạo ấy, và giáng chúng vào bào thai của cùng những kẻ ác ma như chúng. 20Chúng sẽ gặp lại bản thân cùng với khuynh hướng tà ma ác quỷ. Hỡi Arjuna, họ sẽ không thể đạt tới Ta và thậm chí càng rơi xuống thấp hơn.
21Có ba cánh cửa dẫn tới cái địa ngục tự huỷ diệt: ái dục, sân hận, và tham lam. Hãy từ bỏ ba thứ này! 21Hỡi Arjuna, những ai tránh khỏi ba cánh cửa tăm tối này thì tìm thấy điều tốt đẹp nhất và đạt được mục đích tối thượng của cuộc đời. 23Còn người nào coi thường những lời dạy trong thánh thư, bị dục vọng vị kỉ thúc đẩy, họ đánh mất mục đích sống, và đánh mất luôn hạnh phúc và sự toàn thiện.
24Bởi vậy,
hãy để cho thánh thư hướng đạo cho ngươi biết điều phải làm và điều không nên
làm. Một khi hiểu được lời kinh sách dạy thì hành động cho phù hợp ở trần thế
này.
*
CHƯƠNG 17
Sức
mạnh đức tin
Arjuna
1Thưa Krishna, tình trạng của những người không lưu tâm đến thánh thư nhưng vẫn thờ phượng bằng đức tin thì sao? Liệu họ có hành động từ sattva, rajas, hoặc tamas?
Krishna
2Mỗi chúng sinh được sinh ra với đức tin thuộc trong ba loại, sattva (thuần chân), rajas (tham dục), hoặc tamas (ngu muội). Hãy nghe Ta miêu tả.
3Đức tin của mỗi người tương ứng với mỗi bản tính riêng. Bản tính con người được tạo thành bằng đức tin. Shraddha của một người thế nào thì người ấy cũng thế. 4Người sattva thờ những hiện thể của Thượng đế; người rajas thờ quyền lực và của cải. Người tamas thờ quỷ thần và hồn ma.
5Một số người phát minh ra những cách đền tội khắc nghiệt. Bị thúc đẩy bởi thói giả hình và ngã mạn, 6họ tra tấn thân thể vô tội của họ mà Ta đang trú ngụ bên trong. Bị mù quáng bởi cậy sức mạnh và dục vọng, họ hành động và suy nghĩ như ma quỷ.
7Ba loại đức tin tự chúng thể hiện trong tập tính của những người mang những đức tin ấy: trong loại thực phẩm họ thích, công việc họ làm, những giới hạnh họ thực hành, những quà họ ban phát. Hãy nghe Ta mô tả những cung cách khác nhau của họ.
8Người sattva tận hưởng thực phẩm dịu nhẹ, có hương vị, có thực chất, dễ chịu, và có dinh dưỡng, thực phẩm đó giúp tăng cường sức khoẻ, thể lực, sự vui tươi, và tuổi thọ. 9Người rajas thích thực phẩm mặn hoặc đắng, nóng, chua, hoặc cay – là thực phẩm gia tăng sự đau đớn, gây bực bội khó chịu, và bệnh tật. 10Người tamas thích loại thực phẩm chín nhừ, thiu, thừa, và không tinh khiết, loại đồ ăn đã mất hương vị và dinh dưỡng.
11Những hiến tế của hạnh sattva thì đặt toàn tâm của họ vào mục đích hiến tế, không màng được tưởng thưởng, họ tuân theo lời dạy của thánh thư. 12Những hiến tế của hạnh rajas dùng để phô trương và mong đem lại lợi nhuận cho họ. 13Còn hạnh hiến tế tamas thì bất chấp thánh thư và thánh linh. Họ bỏ quên kinh cầu nguyện và cúng dường không đúng cách, không đúng thực phẩm và thiếu đức tin.
14Để phụng sự các thần linh, các bậc tái thế, các vị thánh hiền, và các đạo sư; cần giữ sự thanh tịnh, trung thực, tiết hạnh, và bất hại: đó là giới hạnh về thân. 15 Nói những lời êm dịu, nói chân thật, tử tế, hữu ích, và học kinh sách: đó là giới hạnh về ngôn. 16Bình thản, dịu dàng, yên lặng, tự kiềm chế, và thanh tịnh: đó là giới hạnh về tâm.
17Khi thực hiện cả ba cấp độ giới hạnh này mà không màng tới kết quả, nhưng với đức tin lớn, thì được gọi là hạnh sattva. 18Những giới hạnh thực hành cốt để đạt được sự kính trọng, danh vọng, hay sự ngưỡng mộ, đó là loại hạnh rajas; chúng không đáng tin cậy và có hiệu quả giả tạm. 19Những giới hạnh được thực hành để đạt được quyền thế đối với người khác, hoặc nhầm lẫn tin việc tự hành xác là tâm linh, đó là hạnh cho tamas.
20Tặng vật cho đi, đơn giản vì đó là việc đáng làm, không nghĩ tới được báo đáp, cho đúng lúc, đúng hoàn cảnh, và cho người xứng đáng, đó là hạnh cho sattva. 21Cho đi với sự hối tiếc hoặc mong nhận lại một số ân huệ hoặc đền đáp, đó là hạnh rajas. 22Cho không đúng lúc, không hợp cảnh, không hợp tình, và cho người không xứng đáng, và thiếu tôn trọng, đó là hạnh cho tamas.
23Om Tat Sat: biểu thị ba thánh hiệu của Brahman, mà thuở xưa giới brahmin, kinh thánh và hiến tế đều từ đó mà ra. 24Bởi vậy, những ai tuân theo Veda thì luôn bắt đẩu tụng trì âm tiết Om khi hiến tế, thực hành giới hạnh và bố thí. 25Những ai tìm giải thoát mà không vì tư lợi thì tụng trì thêm âm Tat khi thực hiện phụng vụ, giới hạnh, và bố thí. 26Sat nghĩa là ‘như thế đó’; nó cũng biểu thị sự thiện hảo. Vì thế, nó được dùng để mô tả một hành vi xứng đáng.
27Kiên định
trong hiến tế, giới hạnh, và bố thí là Sat.
Hành động phù hợp với ba điều này cũng là Sat.
28Nhưng nếu thiếu đức
tin, gọi là Asat, thì mọi hiến tế, giới
hạnh, và bố thí chẳng còn ý nghĩa hoặc tốt lành gì trong đời này hoặc đời sau.
CHƯƠNG 18
Giải
thoát và buông xả
Arjuna
1Thưa Krishna, đấng trừ diệt quỷ, xin giải thích cho tôi về sannyasa và tyaga và khác nhau giữa hai loại buông xả này.
Krishna
2Khi khắc chế những hành động vị kỉ, loại xả bỏ này gọi là sannyasa; còn một loại xả bỏ khác là từ bỏ thành quả của hành động, gọi là tyaga.
3Trong số các hiền triết, một số người cho rằng mọi hành động là xấu xa nên phải từ bỏ. Còn những người khác thì cho rằng một số hành động nhất định nên được giữ lại như hiến tế, bố thí, và giới hạnh. 4Arjuna, hãy nghe Ta giải thích về ba loại tyaga và kết luận của Ta về chúng.
5Không nên từ bỏ hiến tế, bố thí, và giới hạnh, vì chúng làm cho tâm hồn được thanh tịnh. 6Này Arjuna, tuy thế những việc này nên thực hiện mà không có ham muốn vị kỉ vì phần thưởng. Điều ấy là cần thiết.
7Chối bỏ những trách nhiệm của mình là không phù hợp. Bậc hiền giả gọi đó là xả bỏ trong ảo tưởng thuộc loại tamas.
8Trốn tránh hành động vì sợ khó khăn hoặc sợ bất tiện cho thể xác thì thuộc loại rajas. Loại xả bỏ đó không đạt được thành tựu gì. 9Còn nếu hoàn thành trách nhiệm và biết đó là bổn phận, đồng thời không mong muốn gì cho bản thân – đó là loại xả bỏ sattva. 10Người được phú cho sattva hiểu rõ ý nghĩa của xả bỏ và không bị dao động. Họ không ngại công việc khó chịu, họ cũng không tìm kiếm một công việc vì nó dễ chịu.
11Chừng nào một người còn cưu mang thân thể, người ấy không thể từ bỏ hành động hoàn toàn. Xả bỏ thực sự là từ bỏ tất cả ham muốn phần thưởng cá nhân. 12Những ai chấp thủ vào phần thưởng cá nhân thì sẽ gặt hái những kết quả từ hành động của họ: lành, dữ, hoặc hỗn hợp cả hai. Nhưng những ai từ bỏ mọi ham muốn tưởng thưởng cá nhân thì sẽ vượt ra khỏi vòng karma. 13Này Arjuna, hãy lắng nghe, Ta sẽ giải thích năm yếu tố cần thiết để thành tựu mọi hành động, như đã được chỉ dạy bởi trí tuệ Samkhya. 14Thân thể (nơi hành động), bản ngã (người hành động), phương tiện (các giác quan), thực thi hành động, và thần ý: 15đây là năm thành tố trong mọi hành động, đúng hoặc sai, trong tư tưởng, lời nói, hoặc hành vi. 16Những người không hiểu được điều này thì tưởng rằng chính họ là những tác nhân biệt lập. Với trí óc thô lậu họ không nhìn thấy sự thật. 17Người thoát khỏi bản ngã, và đã đạt được tâm thuần khiết, dù có giết người, thì cũng không phải là giết và không bị trói buộc vào hành động.
18Tri thức, đối tượng được biết, và người biết: ba thứ này thúc đẩy hành động. Phương tiện, hành động, và người hành động: ba thứ này là tổng thể của hành động. 19Tri thức, hành động, và người hành động có thể nói là phù hợp với những guna. Hãy nghe ta biện biệt chúng.
20Tri thức sattva (thuần chân) nhìn thấy Bản thể bất khả huỷ diệt trong hết thảy mọi chúng sinh, là tính đồng nhất thể trong vô vàn tạo vật. 21Tri thức rajas (tham dục) nhìn thấy vạn vật và chúng sinh là riêng rẽ khác biệt. 22Tri thức tamas (ngu muội), thiếu nhận thức về toàn cảnh, chỉ nhìn thấy một phần nhưng lầm lẫn đó là toàn thể.
23Công việc mà một người thực hiện để hoàn thành bổn phận mà không mong tưởng tới phần thưởng hoặc màng việc đó có dễ chịu hay khó chịu, là hành động sattva. 24Còn công việc thực hiện do thúc đẩy bởi ham muốn vị kỉ hoặc ý chí cá nhân, đầy áp lực, là hành động rajas. 25Công việc thực hiện một cách mù quáng mà không có bất kì cân nhắc nào tới hậu quả, vô độ, phương hại tới người khác, hoặc hại tới năng lực của bản thân, là loại hành động tamas.
26Những người hành động sattva thì thoát khỏi tính vị kỉ và chấp trước, đầy nhiệt tâm và dũng cảm trong thành cũng như bại. 27Những người hành động loại rajas thì ham muốn cá nhân mạnh mẽ và thèm khát phần thưởng cho hành động của họ. Tham lam, bất tịnh, và xung động, họ dễ dàng bị cuốn trôi theo vận số, tốt hay xấu. 28Những người hành động tamas thì vô kỉ luật, dung tục, ngoan cố, giả dối, bất lương, và lười biếng. Họ dễ ngã lòng và hay trì hoãn.
29Này Arjuna, hãy nghe ta nói về ba loại hiểu biết và ý chí. 30Để biết khi nào hành động và khi nào tránh hành động, thế nào là hành động đúng và sai, điều nên sợ và không sợ, điều mang lại tự do và điều mang tới trói buộc: đó là những dấu hiệu của loại lí trí sattva.
31Lí trí rajas lẫn lộn hành động đúng và sai, và không thể phân biệt điều nên làm và điều không nên làm. 32Lí trí tamas thì bị bóng tối che lấp, đảo lộn đúng thành sai và sai thành đúng.
33Ý chí sattva, được phát triển nhờ thiền định, giữ được prana, tâm, và giác quan trong sự hài hoà sinh khí.
34Ý chí rajas bị điều kiện hoá bởi dục vọng vị kỉ, theo đuổi sự giàu có, khoái lạc, và sĩ diện. 35Ý chí tamas thì tự cho thấy nó trong sự ngu muội, lười biếng, sợ hãi, sầu khổ, chán nản, và hư vinh.
36Này Arjuna, giờ hãy lắng nghe: còn có ba loại hạnh phúc. Bằng nỗ lực bền bỉ mà một người đạt tới chấm dứt bi thương. 37Loại hạnh phúc thoạt đầu nếm như độc dược nhưng cuối cùng thì có vị như mật ngọt – đây là hạnh phúc sattva, sinh ra từ tâm trí an định với tự thân. 38Lạc thú của những giác quan thoạt đầu có vị như mật ngọt nhưng cuối cùng đắng như độc dược. Đó là loại hạnh phúc rajas. 39Còn hạnh phúc của người tamas thì từ đầu chí cuối đều sinh ra từ giấc ngủ mê, biếng nhác, và say sưa. Thứ hạnh phúc này là một ảo giác.
40Không có tạo vật nào, ngay cả sinh ra dưới trần thế hoặc thuộc trong số chư thần trên thiên đình thoát khỏi điều kiện của tam tính guna. 41Những trách nhiệm khác nhau có thể tìm thấy trong trật tự xã hội – đặc trưng brahmin, kshatriya, vaishya, và shudra – đều có gốc rễ nằm trong điều kiện này.
42Những chức phận mà những brahmin (đạo sư) được sinh ra dựa trên bản tính của họ, là bình tĩnh, tự chủ, thuần tịnh, nhẫn nại, khoan thứ, khổ hạnh, trí tuệ, và tín tâm.
43Những phẩm chất của giới kshatriya (chiến sĩ) dựa trên bản tính của họ, là dũng khí, mạnh mẽ, kiên định, mưu trí, khảng khái, tài lãnh đạo, và quyết không chùn bước trong trận chiến. 44Những nghề nghiệp thích hợp đối với giới vaishya (thương gia) là canh nông, chăn nuôi bò sữa và buôn bán. Còn công việc thích hợp của một shudra (công nhân) là phục vụ.
45Nhờ tận tâm với bổn phận của mình, mỗi người có thể đạt được sự toàn thiện. Ta sẽ nói cách làm như thế nào. 46Nhờ làm tròn công việc của mình cũng tức là thờ phụng đấng Sáng tạo ngự trong mỗi tạo vật. Sự thờ phụng như thế đem lại viên mãn cho người ấy.
47Thà làm bổn phận của mình dù có bất toàn còn hơn làm tốt bổn phận của người khác. Nhờ làm tròn bổn phận phù hợp với bản tính của mình, một người sẽ không phải mang tội nghiệp. 48Chớ bỏ bê bổn phận bởi vì thấy chúng khiếm khuyết. Mỗi hành động, mỗi hoạt động, bị khiếm khuyết bao quanh như khói bao quanh ngọn lửa.
49Người mà tâm không còn những ngã chấp, và đã làm chủ bản thân và dục vọng, thì đạt được sự hoàn thiện tối thượng thoát khỏi nghiệp lực của hành động. 50Này Arjuna, giờ hãy lắng nghe Ta giảng ngắn gọn, bằng cách nào một người đã đạt được sự toàn thiện thì cũng đạt tới Brahman, cảnh giới trí tuệ vô thượng.
51Với lí trí thuần khiết, làm chủ các giác quan và dục vọng, xả bỏ sự tham luyến và sân hận, 52Một người như thế thì sống một cuộc đời đơn sơ, tự lực dựa trên thiền định, chế ngự được thân, ngôn, và tâm.
53Khi đã dứt bỏ sự ngoan cố, hung hãn, ngạo mạn, sân nộ, và tham lam muốn sở hữu người hoặc vật, người ấy được bình an với tự thân và với tha nhân, và đi vào trạng thái hết hợp. 54Được hợp nhất với Brahman, hoan lạc mãi mãi, không còn dục vọng và khổ luỵ nữa, người ấy xem hết thảy mọi chúng sinh đều bình đẳng và đạt tới sự phụng hiến tối thượng cho Ta. 55Bằng sự sùng ái Ta, người ấy hiểu Ta thực sự; và rồi thấy được vinh quang Ta và đi vào quốc độ của Ta. 56Hết thảy mọi hoạt động đều được thực hiện nương nhờ vào Ta, và nhờ ân điển Ta, người ấy chứng đắc đời sống vĩnh hằng.
57Hãy làm cho mỗi hành động thành một lễ vật cúng dường Ta; xem Ta là đấng che chở duy nhất của ngươi. Trông cậy vào giới hạnh, thuỷ chung thiền định về Ta. 58Khi tưởng nhớ Ta, ngươi sẽ vượt qua mọi trở ngại nhờ ân điển của Ta. Còn nếu Ngươi tự ý mình không đoái hoài Ta, sẽ chẳng gì giúp được ngươi đâu.
59Nếu ngươi tự phụ nói, ‘Tôi sẽ không giao chiến,’ thì quyết tâm của ngươi thành vô dụng; bản thể của ngươi sẽ cuốn ngươi vào trong nó. 60Nghiệp của ngươi, sinh ra từ bản thể của ngươi sẽ buộc ngươi phải làm dù ngươi không muốn, do ảo tưởng.
61Đấng Chí Tôn ngự trong tim của mọi chúng sinh và xoay vòng chúng trên bánh xe của maya. 62Hãy tới an trú nơi ngài bằng hết nghị lực ngươi, để ngươi có được sự bình an vô thượng nhờ ân điển của ngài.
63Ta đã tiết lộ cho ngươi trí tuệ huyền nhiệm này; hãy suy ngẫm về chúng và rồi làm theo sở nguyện của ngươi. 64Đây là những lời cuối mà Ta sắp nói cho ngươi là bằng hữu mà Ta yêu thương, vì thành tựu viên mãn tâm linh của ngươi.
65Hãy luôn hướng tâm đến Ta, yêu kính Ta, hãy khiến mỗi hành động thành lễ vật cúng dường Ta, để ngươi sẽ đạt đến Ta; Ta hứa, vì ngươi là bạn chí ái của Ta. 66Hãy từ bỏ mọi nương nhờ thế tục để tìm tới Ta che chở. Ta sẽ thanh tẩy ngươi khỏi mọi tội nghiệp trong quá khứ; chớ lo lắng.
67Đừng chia sẻ trí tuệ này cho những kẻ nào thiếu lòng sùng mộ hoặc thiếu tiết độ, không muốn lĩnh hội, hoặc nhạo báng Ta. 68Ai đem dạy bí nhiệm tối thượng này tới những người yêu mến Ta là thực hiện hành vi sùng ái tuyệt vời nhất; người ấy nhất định đạt tới Ta. 69Chẳng có ai phụng hiến Ta được hơn thế, và chẳng có thế nhân nào mà Ta yêu thương hơn người ấy.
70Những ai nhập tâm những lời thiêng liêng này thì thờ phượng Ta bằng trí tuệ và phụng hiến. Ngay cả những ai lắng nghe chúng bằng tín tâm, không hồ nghi, sẽ tìm thấy cõi an lạc nơi những người thiện hảo cư ngụ. 72Hỡi Arjuna, ngươi đã chú tâm lắng nghe rồi chăng? Mọi nghi hoặc và hoang mang của ngươi đã được xua tan hết chưa?
Arjuna
73Ngài đã xua tan mọi nghi hoặc và ảo tưởng của tôi, và tôi ngộ ra là nhờ ân điển của ngài. Đức tin của tôi giờ đây được vững vàng, tôi nguyện làm theo ý chỉ của ngài.
Sanjaya
74Như vậy, đó là cuộc đối thoại mà hạ thần đã nghe được giữa Krishna, con trai của Vasudeva, và Arjuna, linh hồn cao thượng này là con trai của Pritha. Cuộc đối thoại kì diệu ấy khiến hạ thần dựng cả tóc gáy. 75Nhờ ân điển của Vyasa, hạ thần đã trực tiếp nghe được bí ẩn tối thượng này, là đạo yoga do chính Krishna là Chúa tể của yoga truyền dạy.
76Thưa quốc vương, mỗi lần hạ thần nhớ lại những lời thiêng liêng và kì diệu ấy giữa Krishna và Arjuna, lòng hạ thần chan chứa hoan lạc. 77Và mỗi lần hạ thần nhớ lại hiện thể phi phàm của Krishna, trong lòng hạ thần vô cùng kinh ngạc và hân hoan ngập tràn.
78Ở đâu
có Krishna thần thánh và Arjuna dũng mãnh, ở đó có sự thịnh vượng, thắng lợi, hạnh
phúc, và sự công chính. Hạ thần xác tín như vậy!
_________________
Ghi chú
Chương 1
1 Cụm từ ‘trên cánh đồng của chánh pháp’ (dharma-kshetre) ám chỉ trận chiến này là một ẩn dụ, cuộc chiến của chánh pháp (dharma), công lí, chống lại phi pháp (adharma), cái ác. Cuộc chiến xảy ra không chỉ tại Kurukshetra, ‘cánh đồng của tộc Kurus’, mà cũng về ‘cánh đồng của dharma’, lĩnh vực tâm linh nơi mà mọi tranh đấu về đạo lí được tiến hành.
40-44 Những câu này đặc biệt khó dịch, bởi chúng xoay quanh từ dharma phức hợp: luật/pháp, công lí, hoặc đơn thuần là bản tính nội tại của cái gì đó. Khi cố nắm bắt từ này trong tiếng Anh, ta có thể gọi là ‘luật của Chúa’ hoặc ‘chân lí vĩnh hằng’. Dharma mang nghĩa thiêng liêng; đó là lực lượng nắm giữ mọi thứ lại với nhau trong một thể thống nhất, cái trung tâm phải giữ cho mọi thứ diễn ra tốt đẹp. Đối lập của dharma (chánh pháp) là adharma (phi pháp): cái ác, sự bất công, hỗn loạn. Trong những câu này Arjuna bày tỏ nỗi sợ về một sự hỗn loạn sắp tới, và một thế giới xấu xa ở đó người tốt sẽ bị hoang mang và bị xâm phạm. ‘Ý thức về nhất thể’ ở đây dịch là dharma; cụm từ ‘đánh mất ý thức về nhất thể’ hẳn sẽ được dịch theo nghĩa đen là ‘bị chế ngự bởi adharma.’
Lối dịch này diễn đạt chung về sự hỗn loạn chế ngự xã hội khi dharma bị suy yếu – khi những chân lí về tâm linh bị bỏ quên. Như vậy, varna-samkara, nghĩa đen là ‘sự hỗn loạn về đẳng cấp’, thì có nghĩa hơn khi dịch là ‘xã hội bị chìm trong hỗn loạn’. Chủ đề ở đây không phải là sự tuân thủ những quy tắc về đẳng cấp, mà là sự cố kết thiết yếu của kết cấu xã hội.
43 Tiếng Phạn chỉ những nghi lễ pinda cổ xưa để kính nhớ tổ tiên. Những nghi lễ này duy trì truyền thống của gia đình bằng sự kính trọng và sùng bái những bậc tiền nhân. Một lần nữa, lối dịch khá tự do ‘sự tiến hoá tâm linh bắt đầu bởi tổ tiên chúng ta’ dường như thích hợp với cách dịch theo nghĩa hẹp hơn.
Chương 2
17 Tat, ‘cái đó’, là một danh xưng cổ xưa để chỉ Brahman, cái thực tại vô thượng. Brahman không có nam tính hay nữ tính; thực sự, không có bất cứ thuộc tính nào cả. Chính vì không thể miêu tả Brahman bằng lời, cho nên dùng đơn thuần bằng chỉ từ: tat.
72 Trạng thái bất tử là brahma-nirvana, ‘Nirvana chính là Brahman’. Đây là trạng thái giải thoát, sự kết hợp với cội nguồn thiêng liêng của tồn tại. Từ nirvana, căn ngữ tiếng Phạn va ‘thổi’ với tiền tố nir ‘tắt’; có nghĩa là ‘dập tắt’, như ‘thổi tắt’ một ngọn lửa. Vậy nó biểu thị sự tiêu diệt cái tính cách cũ và sự hạn chế. Bằng cách thêm từ brahman, để chỉ sự kết hợp hoàn toàn với Thần tính vũ trụ. Vậy, Brahma-nirvana nghĩa là trạng thái thần bí của tiêu diệt bản ngã trong việc kết hợp với Thượng Đế. Nirvana cũng là một thuật ngữ Phật giáo. Không may có một số sự hiểu sai phổ biến về khái niệm khá bí truyền này. Nirvana bị trình bày sai lạc như một loại hư vô trống rỗng, thậm chí là một cái chết tâm linh. Chúng ta có ấn tượng hoàn toàn ngược lại nếu tiếp cận chính người Hindu và Phật tử. Quả là có nhiều người nói về việc dập tắt cái ngã nhỏ mọn và vượt ra ngoài ý chí cá nhân – cái mặt nạ che giấu Chân Ngã sáng tạo, trí tuệ, yêu thương ở bên dưới. ‘Cái chết’ của cá nhân cũ để dọn đường cho cá nhân mới là một mục đích của giới hạnh tâm linh. Điều đó có thể đau đớn, nhưng chết đi cái cũ không dẫn tới huỷ diệt mà tái sinh về tâm linh.
Chương 3
9 Ở đây và sau đó, yajna được dịch là ‘công việc vô ngã’ hay ‘phụng sự vô ngã’. Nghĩa đen là sự hi sinh: về cơ bản yajna là việc tự hi sinh, từ bỏ điều mà một người xem là rất giá trị vì một mục đích cao cả hơn. Một số dịch giả đã dịch với nghĩa rất hẹp về yajna như một loại nghi thức hiến tế là không chính xác.
39 Kama có thể được dịch là dục vọng vị kỉ hoặc khoái lạc vị kỉ và thường mang nội hàm về ham muốn nhục dục hoặc dục tình. Nó có nghĩa thiết yếu là dục vọng cá nhân với sự thoải mái và khoái lạc, chứ không phải là loại ‘dục vọng’ có tính vị tha.
Chương 4
37 Đây là một câu nổi tiếng. Karma có những ý nghĩa phức hợp, nhưng câu này được xem rộng rãi có nghĩa là tri thức thực sự thì trừ khử những hậu quả lỗi lầm trong quá khứ vốn phát sinh thêm karma. Khi ý thức được hợp nhất và giác ngộ, một người được giải thoát khỏi sự trói buộc của karma.
Chương 5
6 Yoga có nhiều nghĩa trong Gita. Ở đây yoga được dịch như là ‘hành động’ và ‘phụng sự vô ngã’ bởi có một sự tương phản được tạo ra giữa Samkhya và yoga: đó là giữa sự minh giải triết học và việc thực hành thật sự đời sống tâm linh.
9 Từ để chỉ ‘các giác quan’ trong Sanskrit là indriya, nghĩa đen là ‘tính năng’ hay ‘năng lực’. Những indriya không chỉ là năm tính năng của tri giác (nhìn, nghe, sờ, ngửi, và nếm) mà cũng còn ghi nhận những hành động với những cơ quan là tay, chân, lưỡi, và các cơ quan bài tiết và sinh sản.
13 ‘Thành trì chín cửa’ là thân thể. Chín cửa: hai mắt, hai lỗ mũi, hai tai, miệng, hậu môn và lỗ sinh dục. Trong một số liệt kê có khi lên tới 11 với thêm lỗ rốn và brahmarandhra (hay sagittal suture) thóp trên khớp xương đỉnh sọ.
27-28 Khu vực ‘của ý thức tâm linh’ nằm giữa hai chân mày là một trong bảy trung tâm nhận thức hay chakra (luân xa) được miêu tả trong kinh điển về yoga. Bảy chakra này, tuy không không mang tính vật lí, nhưng được cho là nằm dọc theo một ống dẫn để đánh thức năng lượng tâm linh (kundalini) tương ứng với cột xương sống; các chakra được định vị ở vùng hậu môn, cơ quan sinh dục, bụng, tim, cổ họng, giữa cặp chân mày, và đỉnh đầu. Kundalini lưu chuyển trong số những trung tâm này, nhưng thường hạn chế vào ba chakra thấp nhất, tương ứng với những bận tâm chính của đời sống ở cấp độ sinh lí. Trong sự tập trung luyện yoga thì năng lượng sinh khí (kundalini) trỗi lên; trạng thái samadhi (nhập định) được cho là xảy ra khi nó lên tới những chakra ở vùng trán hoặc đầu.
Chương 6
11 Câu này miêu tả toạ cụ truyền thống để thiền định. Gita không đề cập tới những hình thức bên ngoài của đời sống tâm linh, nhưng ở đây chúng ta có sự lưu ý về loại cỏ và tấm da hươu được dùng bởi các nhà hiền triết cổ đại. Điểm chính có thể là do họ sử dụng những gì có sẵn trong rừng ẩn dật, và chỗ ngồi đó nên là thứ mà Patanjali gọi là sukhasana: đủ thoải mái để quên đi thân thể của mình.
14 ‘Mọi hành động được dâng hiến cho Brahman’ là dịch theo nghĩa đen của từ Sanskrit brahmacharya, một cuộc đời tự chủ là kiềm chế giác quan.
Chương 7
16 Các dịch giả gặp khó khăn với từ artharthi. ‘Những người khao khát đạt được mục tiêu’ nắm bắt được nghĩa căn bản của từ này. Artha là mục tiêu hay mục đích; từ thứ hai ghép arthi nghĩa là ‘người có mục tiêu.’ Vì vậy, artharthi có lẽ để chỉ những người chọn đời sống tâm linh với một mục đích cụ thể. Artha cũng có nghĩa là sự giàu có hoặc của cải trần gian, nhưng nếu dịch cụm từ này là ‘những người ham muốn giàu có’ sẽ đi ngược lại toàn bộ nội dung chính của Gita.
23 ‘Chư thiên’ ở đây là những deva, còn thấp hơn là những thần cõi trời như Indra.
30 Những thuật ngữ khó hiểu này (adhibhuta, adhidaiva, và adhiyajna) được xem xét ở chương kế tiếp.
Chương 8
6 Điều gì mà tâm trí chứa đựng vào lúc lâm chung sẽ quyết định hướng tái sinh của linh hồn, hàm ý là bất cứ những gì đã là nền tảng của ý thức trong cuộc đời sẽ được nhớ lại vào lúc chết và dẫn linh hồn tiếp tục thực hiện ước muốn đó ở kiếp sau.
9-10 trung tâm ở giữa hai chân mày đã được bàn tới ở ghi chú 5:27-28.
Chương 9
5 Yoga ở đây nghĩa là ‘quyền năng huyền diệu’. Đó là một ý nghĩa khác gắn với từ yoga, với những người tập yoga đôi khi được cho là che giấu trong họ những năng lực phi thường được phát triển qua sự rèn luyện. Truyền thuyết Ấn-độ có nhiều câu chuyện về các yogi huyền diệu có quyền năng kì lạ, siêu phàm. Ở đây Krishna nói về yoga aishvaram của ngài, quyền năng huyền diệu và hùng vĩ. Ishvara có nghĩa là ‘chúa tể’ còn aishvaram là ‘cao quý’. Yoga của Krishna là loại mà ngài dùng là Ishvara, Chúa tể thế giới. Giờ ngài bắt đầu cho Arjuna thấy điều gì đó về tính chất của sự huyền diệu này.
17 Rig, Yajur, và Sama là những pho kinh chính trong Veda, những kinh thánh cổ có thẩm quyền chính thống của Hindu giáo.
20-21 Những câu này lập lại ý niệm rằng thiên đường tự thân là một trạng thái vô thường. Sau khi dùng cạn hết kho thiện nghiệp (karma) của họ, những linh hồn hồng phúc trên thiên đường lại phải tái sinh xuống trần gian. Chỉ có linh hồn đã được giải thoát, người đã tìm thấy sự hợp nhất với Krishna hay brahmanirvana, thì thoát ra khỏi vòng sinh tử luân hồi của một tạo vật phàm trần.
Chương 10
Chương này gồm nhiều cái tên tiếng Sanskrit đã được xác định vắn tắt trong Bảng từ vựng ở cuối sách.
18 Amrita, ‘người bất tử’, gốc từ a ‘không’ và mrita ‘phải chết’. Từ Hi-lạp ambrosia có cùng gốc và nghĩa: amrita là ambrosia của các vị thần, là thức uống khiến cho họ trường sinh, và theo nghĩa chung là ngọt hoặc mật ngọt, cam lồ. Vì vậy, cũng có thể dịch là ‘những lời của ngài như nước cam lồ’.
22 Tâm thức (manas), ở đây được xem như một trong những giác quan hay indriya trong nhận thức; ví dụ, điều đó thật sự ở trong tâm hơn là ở mắt mà chúng ta thấy.
33 Mẫu tự trong tiếng Sanskrit cũng bắt đầu với chữ a; có thể đây là lí do tuyên bố rằng trong các mẫu tự ngài là a, đầu tiên. Một lí do khác có thể rằng a là âm thường xuyên nhất trong Sanskrit.
Chương 11
14 Ở đây Arjuna chắp hai bàn tay lại theo động tác gọi là anjali, giống như động tác cầu nguyện của người phương Tây. Đây là hình thức chào đón thông thường tỏ sự kính trọng ở Ấn-độ, cũng như trong việc thờ phượng và cầu nguyện.
15 Brahma, Đấng Sáng tạo (đừng lầm lẫn với Brahman, là Thần tính không có những thuộc tính vốn vượt ngoài Ba ngôi của sự sáng tạo, bảo tồn, và huỷ diệt) ngự trên một đoá sen mà từ cái cái rốn mọc lên Chúa tể Vishnu.
17 Ở đây Arjuna xem Krishna không phải như bạn, mà là đấng Chí Tôn hiện thân trong Krishna: Vishnu, trang bị những khí giới truyền thống là cái chuỳ và cái đĩa xoay. Trong câu này không đề cập tới hai biểu tượng ôn hoà khác cầm trong tay ngài là tù và ốc và đoá sen.
Chương 12
1 Arjuna đang hỏi con đường nào thì vượt bực hơn, con đường tri thức (jnana yoga) hay con đường sùng ái (bhakti yoga).
Chương 13
5 Đây là danh mục tất cả gồm 24 loại được đưa ra trong triết học Samkhya để miêu tả hiện tượng trong lĩnh vực prakriti.
Chương 15
1 Ashvattha là cây Pipal thiêng liêng, tức cây Đa, là một loại cây sung [cùng chi họ Ficus với những cây khác như bồ-đề, sung, sanh, si, vả, gừa] được trồng trong các khu đền thờ ở Ấn-độ. Khái niệm về một ‘cây thế giới’ xuất hiện trong nhiều nền văn hoá cổ. Ở đây Gita dùng hình tượng về một cái cây ‘lộn ngược’, vì cây pipal thả những rễ khí, sinh ra ‘những cành ở trên lẫn dưới’. Hình ảnh này minh hoạ cho thế giới hiện tượng, được bắt rễ từ Brahman trong nhất thể và phân nhánh thành sự đa dạng của đời sống.
13 Rasatmaka soma ở đây dịch là ‘nước ban sự sống’, dưỡng chất của cây cối. Trong thần thoại Hindu, mặt trăng có khi được gọi là Soma vốn nuôi dưỡng thực vật, như nguồn mật ngọt ban sự sống gọi là Soma. Trong kinh Veda, soma là một thức uống làm say sưa và tiếp sinh lực được chưng cất từ một loại cây mọc trên núi cao mà những người hiến tế uống. Một số học giả đã cố gắng tìm xem soma là loại cây gì, nhưng đến nay chưa có xác định nào rốt ráo. Soma cũng có thể là một vị thần quan trọng trong Veda.
Chương 17
27-28 Sat nghĩa là thật hay chân và là cái thiện hảo; nó bắt nguồn từ động từ as trong Sanskrit, và có liên hệ trực tiếp tới từ is trong tiếng Anh. Điều đáng chú ý là từ sat liên kết thực tại với cái tốt lành, phản ánh ý niệm rằng cái tốt là vĩnh hằng; và chỉ thỉnh thoảng nó bị che phủ bởi cái asat, cái xấu/ác tạm thời theo nghĩa không có thật. Asat được tạo ra từ sat bằng cách thêm tiền tố a ‘không có’ khá giống với cách mà Anh ngữ hình thành những từ như amoral (phi luân lí).
Chương 18
1 Sannyasa và tyaga cả hai đều có nghĩa là sự từ bỏ, sannyasa từ căn ngữ as ‘ném đi, gạt bỏ’ còn tyaga từ tyaj ‘từ bỏ, buông xuôi’. Sự dị biệt giữa hai từ này đã được làm sáng tỏ trong phần dẫn nhập của chương này.
14 ‘Thần ý’ (divine will) là dịch từ daivam có gốc từ deva, ‘thần’. Daivam đôi khi được dịch là ‘định mệnh’ (fate), nhưng ở đây không thích hợp trong Gita vốn không có thuyết định mệnh. Tuy nhiên, Gita cho phép một chỗ dành cho thiên ý hay sự Quan phòng của Thượng Đế trong những những vấn đề của con người – mặc dù tất nhiên là lực lượng chủ đạo thường là karma chứ không phải daivam.
34 Câu này dùng cụm từ dharma-kama-artha, ‘bổn phận, khoái lạc, và giàu có’, trong truyền thống được coi như là ba mục tiêu của cuộc đời bình thường. Mục tiêu thứ tư và cao nhất là moksha, sự giải thoát. Tính cách rajas, như trong câu này vạch ra, theo đuổi ba mục tiêu trần tục mà bỏ quên moksha.
41 Kinh Veda thiết lập sự phân chia tầng lớp xã hội thành các đẳng cấp brahmin, kshatriya, vaishya, và shudra – đại khái là 1) giáo sĩ và trí thức; 2) chiến binh và nhà cai trị; 3) thương gia, nông dân, và nghệ nhân; và 4) công nhân và đầy tớ.
66 Dharma không được sử dụng ở đây theo nghĩa thông thường là luật pháp hoặc bản tính nội tại, mà theo nghĩa hiếm thấy hơn: một thuộc tính, điều kiện, hoặc điều kiện hoá. Thường thường dharma dùng theo nghĩa này trong số nhiều, như ở đây: như vậy dharma là luật thiêng liêng; còn những dharma là vô số chúng sinh, sự vật, cảm xúc và những trạng thái tâm thức tạo nên sự tồn tại thường ngày như chúng ta kinh nghiệm nó. Ở đây, theo nghĩa gốc (dhri, hỗ trợ hoặc giữ vững), sarva-dharman được dịch là ‘mọi sự hỗ trợ’, theo nghĩa từ những chỗ dựa bên ngoài, những phụ thuộc có điều kiện. Một lối dịch khác sẽ là: ‘Hỡi Arjuna, ngươi hãy quẳng đi mọi sự phụ thuộc vào bên ngoài, mà trông cậy vào Chân Ngã duy nhất.’
______________
Từ vựng
Bảng từ vựng này chỉ hướng dẫn cho những thuật ngữ Sanskrit sử dụng trong sách này; không gồm những những từ nào dùng một lần và đã được giải thích trong ngữ cảnh ấy.
adharma ‘Không phải dharma.’ Bất chính, xấu, ác, và bất cứ điều gì trái với đạo lí.
advaita Bất nhị; Thực tại tối thượng, vốn là ‘Một chứ không có cái thứ hai’. Từ advaita đặc biệt dùng trong triết học Vedanta để nhấn mạnh tính nhất thể của Tiểu Ngã (Atman) và Đại Ngã (Brahman).
ahamkāra [aham ‘tôi’; kāra ‘người tạo tác’] Ý chí cá nhân, sự cách biệt.
ahimsā [a ‘bất/không’; himsā ‘bạo động’] Bất bạo động, không gây phương hại, không có ý làm hại.
akasha Không gian, bầu trời; nguyên tố tế vi nhất trong năm nguyên tố.
akshara Sự vĩnh hằng; âm tiết Om.
Ananta Con rắn vũ trụ mà thần Vishnu nằm nghỉ trên đó.
apara [‘chẳng siêu việt’] Tri thức hạ tầng; tri thức thuộc trí năng.
Arjuna Một trong năm anh em Pāndava và là nhân vật quan trọng trong sử thi và truyền thuyết Ấn-độ. Chàng là môn đệ và là người bạn được Sri Krishna yêu quý trong Bhagavad Gītā.
Aryaman ‘người cao quý,’ một vị thần trong Veda, được tôn kính như là tổ tiên loài người.
asat [ a ‘chẳng/không’; sat ‘chân lí, thiện hảo’] Không phải chân lí; bất cứ những gì không thật, không đúng, hoặc thiếu thiện hảo.
ashvattha Cây đa (pipal tree), thuộc họ sung; được xem là cây thiêng và thường được trồng trong khuôn viên đền thờ.
Ashvatthama Một cung thủ và chiến binh vĩ đại, là con trai của Drona.
asura Một loại quỷ trong thần thoại Hindu; nghĩa bóng, là kẻ có bản tính ác.
Ātman ‘Tiểu Ngã’, hay ‘Chân Ngã’; linh hồn sâu thẳm nhất trong mọi chúng sinh, vốn có bản tính thần thánh.
avatāra [ava ‘xuống’; tri ‘băng qua’] Sự giáng trần của Thượng Đế; sự nhập thể của Vishnu xuống trần; sự ra đời của ý thức thần thánh trong trái tim con người.
avidyā [ a ‘không’; vidyā ‘trí tuệ’] Vô minh, thiếu trí tuệ, thiếu tri thức.
avyaya Sự vĩnh hằng, sự bất biến.
Bhagavad Gita [Bhagavat ‘Chúa tể’, ‘đấng Chí Tôn’; gītā ‘bài ca’] ‘Bài ca của đấng Chí Tôn,’ tên của cuốn kinh Hindu chứa đựng những huấn thị của Sri Krishna.
bhakti Sùng mộ, phụng tự, sùng ái.
bhakti yoga Đạo của Sùng ái/Yêu thương (The Way of Love).
Bhīshma Một trưởng lão khả kính của vương triều Kaurava, ông đã tự nguyện để Arjuna giết chết trong trận chiến sử thi Mahābhārata.
Bhrigu Một nhà hiền triết nổi tiếng trong truyền thuyết cổ đại
Brahmā Thần sáng tạo, một trong tam vị nhất thể của Hindu, hai vị thần kia là Vishnu, đấng Bảo tồn, và Shiva, đấng Huỷ diệt. Không nên lầm lẫn Brahmā với Brahman. (Xem bên dưới)
brahmacharya ‘Phẩm hạnh dẫn tới Thượng đế,’ sự tiết độ, thuần khiết.
Brahman Thực tại tối thượng ẩn dưới mọi sự sống, nền tảng linh thánh của hiện hữu, Thần tính phi nhân cách.
brahmanirvāna ‘Niết-bàn trong Brahman,’ trạng thái cuối cùng của sự viên mãn tâm linh: sự kết hợp vĩnh hằng với Brahman, nền tảng mọi hiện hữu.
Brahmavidyā Khoa nhận thức về Brahman.
brahmin [brāhmana] Theo nghĩa đen, một người nỗ lực để hiểu Brahman; trong xã hội Hindu truyền thống, là người thuộc tầng lớp giáo sĩ hoặc tri thức.
Brihaspati Đạo sư (guru) hoặc tư tế của thần linh.
Buddha [do từ budh: ‘tỉnh giác’] ‘Người đã Giác ngộ,’ danh hiệu dành cho bậc thánh nhân Siddhārtha Gautama Shākyamuni sau khi ngài đã hoàn toàn giác ngộ. Buddha đã sống và giảng dạy ở Bắc Ấn vào thế kỉ 6 tCN.
buddhi Hiểu biết, thông minh; năng lực biện biệt; có quan điểm, tư tưởng, và mục đích đúng đắn.
Chitraratha ‘Có một chiến xa rực rỡ’, vị vua của các nhạc công thiên thần (Gandharva)
daivam Thánh ý; thiên mệnh.
deva Một hữu thể thần thánh, vị thần. Những deva trong thần thoại Ấn-độ tương tự chư thần trên đỉnh Olympus của Hi-lạp cổ đại – phi thường, bất tử, tuy nhiên họ không khác người phàm trong hành xử. Devi (giống cái): ‘nữ thần’.
dharma Pháp độ (law), bổn phận; pháp độ phổ quát nắm giữ hết thảy sinh mệnh trong nhất thể.
Dhritarashtra Quốc vương của dòng Kurus. Ông bị mù bẩm sinh vì vậy không được lên ngôi chính thức, nhưng trên thực tế ông vẫn cai trị. Toàn bộ Bhagavad Gītā là một tường thuật bởi Sanjaya cho vị quốc vương mù, đám con trai của ông là anh em Kaurava.
Draupadi nàng công chúa này trở thành người vợ chung của năm anh em Pāndava.
Drona Một brahmin uyên bác trở thành chiến binh, sau là tướng quân của quân đội Kaurava. Ông là vị thầy của các hoàng tử, truyền dạy binh thư cho các anh hùng trong sử thi Mahābhārata.
duhkha Đau, khổ, sầu muộn
Duryodhana Con trai cả của Dhritarāshtra và là kẻ thù chính của anh em Pāndava và Sri Krishna.
dvandva (từ đồng đẳng) Trong văn phạm Sanskrit, một loại kết hợp hai đơn từ (hoặc hơn) thành một cặp từ (hoặc cụm từ). [ví dụ: mātāpitara, ‘mẹ cha’, kết hợp mātā ‘mẹ’+pita ‘cha; hoặc pāṇipādam ‘tay chân’, kết hợp paṇi ‘tay’+pāda ‘chân’].
Gandharva Những nhạc công thiên đình là những á thần, rất mẫn cảm và hãnh diện, anh tuấn và đa tình.
Gandiva Cây cung của Arjuna, vốn là quà tặng từ thần lửa.
Ganges [Sanskrit: gangā] Dòng sông chính ở Bắc Ấn được tôn kính như một biểu tượng thiêng liêng.
Garuda Chim đại bàng to lớn là phương tiện của thần Vishnu.
gayatri Một thể vận luật trong thánh ca Veda; một bài kinh cầu mặt trời làm theo vận luật này.
Gita ‘Bài ca’, nhan đề để gọi tắt Bhagavad Gita.
Guna Phẩm chất; đặc biệt để chỉ ba phẩm chất tạo thành thế giới hiện tượng: sattva, pháp độ, hài hoà, thuần khiết, thiện hảo; rajas, năng lượng, dục tình; và tamas, trì độn, ngu muội.
guru đạo sư
Hari một trong những danh xưng của Vishnu hoặc Krishna.
Hastinapura ‘Thành phố của voi’, một thành phố quan trọng của Ấn-độ cổ đại, toạ lạc phía đông bắc thành phố Delhli ngày nay cách khoảng 60 dặm. Đây là kinh đô của anh em Pāndava và dòng dõi của họ.
Himalaya [hima ‘tuyết’; alaya ‘nơi trú ngụ’] dãy núi vĩ đại trải dài qua biên giới bắc Ấn, có tầm quan trọng trong thần thoại như là nơi cư ngụ của thần Shiva và những thần khác.
Ikshvaku Con trai của Manu, người lập ra Triều đại Mặt trời (Suryavansha).
Indra Thần bão tố và chiến tranh. Trong Veda, Indra là thủ lĩnh của chư thiên (devas) và là vị thần quan trọng; sau này vai trò của thần này suy giảm nhiều.
Ishvara Chúa tể; Thượng đế.
Janaka Một quốc vương thời cổ đại, vừa là nhà cai trị hữu hiệu vừa là một thánh hiền.
Janardana ‘Người khuấy động mọi người’, một danh xưng của Krishna.
jīva Sinh mệnh; linh hồn sống; linh hồn cá nhân hữu hạn đồng nhất với hiện hữu riêng biệt, đối lập với Ātman, Chân ngã vĩnh hằng (eternal Self).
jnāna [từ jnā ‘hiểu biết’] Trí tuệ; tri thức cao.
jnāna yoga Con đường Trí tuệ
kalpa một khoảng thời gian vũ trụ bằng một Ngày của Brahmā hay 1,000 ‘đại yuga’ – tổng cộng là 4,320 triệu năm. Xem thêm Yuga.
kama Ham muốn vị kỉ, tham lam, ham muốn dục tính, đôi khi được nhân cách hoà là Kāmadeva.
Kamadhuk ‘Con bò cái như ý’ trong truyền thuyết toại nguyện mọi ước muốn.
Kapila Tên một nhà hiền triết, vị thầy đầu tiên của phái triết học Sāmkhya.
Karma [do từ kr‘làm’] Hành động; những hành động trong dĩ vãng sẽ dẫn tới những kết quả nhất định trong một quan hệ nhân-quả.
karma yoga Đạo Hành động; con đường phụng sự vị tha.
Karna Một chiến binh dũng cảm đóng vai trò quan trọng trong sử thi, nhưng chỉ được nhắc thoáng qua trong Gītā.
Kauravas ‘Những con trai của Kuru’, Duryodhana và anh em của y, vốn là những kẻ thù của anh em Pāndava.
Kripa một người thầy khả kính trong hoàng thất và cũng tham gia là một chiến binh.
Krishna [‘đen’; hoặc gốc từ krish nghĩa là ‘thu hút về mình’] ‘Đấng Đen huyền’ hoặc ‘Ngài lôi cuốn chúng ta tới Ngài’, là cái tên cho sự hoá thân của Vishnu. Vishnu là lực lượng thiện hảo của vũ trụ, giáng trần với thân phận Krishna để tái lập chính pháp (dharma). Krishna là bạn và cố vấn của anh em Pāndava, đặc biệt là Arjuna, người mà ngài tiết lộ những lời dạy của Bhagavad Gītā. Ngài là Chúa tể nội tại, nhân cách hoá tình yêu tâm linh và sống trong tim của hết thảy chúng sinh.
kshatriya Chiến binh hay vua chúa; một thành viên thuộc giai cấp cai trị trong xã hội Hindu.
kshetra Cánh đồng; một địa điểm; nơi linh liêng hoặc đền thờ.
Kubera Thần tài lộc.
kundalinī ‘Khí lực của con rắn’ [‘hoả xà’], năng lượng tâm linh hay năng lượng tiến hoá. Trong văn điển yoga, kundalinī được mô tả là luồng khí lực cuộn tròn ở chân cột sống. Kundalini có thể khơi dậy qua thiền định và thực hành yoga; sau đó nó trỗi dậy qua thân thể tế vi, và đánh thức những trung tâm cao hơn của ý thức.
Kurukshetra ‘Cánh đồng của Kuru’, nơi xảy ra trận chiến Mahābhārata. Địa điềm nằm ớ phía bắc của thành phố Delhi ngày nay.
lila Du hí; trò chơi thần thánh của đấng Chí Tôn nguỵ trang thành nhiều hiện thể trong thế giới này.
Madhava Một danh xưng khác dành cho Krishna, ‘thuộc tộc Madhava’.
Madhusudana ‘người giết quỷ Madhu’, tên gọi Krishna, người đã diệt trừ quỷ Madhu.
MahabharataTên sử thi vĩ đại của Ấn-độ sáng tác cách đây khoảng 2500 năm, tục truyền gán cho nhà hiền triết Vyasa. Sử thi này về cuộc xung đột giữa hậu duệ của Pandu (lực lượng ánh sáng) và hậu duệ của Dhritarāshtra (lực lượng bóng tối).
manas Tâm, thức; đặc biệt, về năng lực ghi nhớ và lưu trữ ấn tượng giác quan.
mantram [hoặc mantra] một thánh danh hoặc thánh ngữ; một chân ngôn.
Manu Tổ phụ loài người, trong Hindu giáo, tương đương với Adam hay con người đầu tiên.
Margashirsha Tháng âm lịch nhằm vào tháng 11-12.
Marichi Một á thần trong Veda. Tên nghĩa là ‘hạt ánh sáng’.
Maya Ảo hoá; vẻ bên ngoài, tương phản với Thực tại; quyền năng sáng tạo của Thượng đế.
Meera (hay Mirabai) Một nữ thánh và nhà thơ trong trào lưu Bhakti của Ấn-độ thời trung cổ, sáng tác những bài ca dâng hiến cho Krishna yêu dấu.
Meru Một ngọn núi thần thoại được cho là nằm ở trung tâm thế giới hay vũ trụ. Các vị thần ngự trên núi Meru trong những kinh thành diễm lệ, giữa những vườn hoa.
moksha Giả thoát, cứu rỗi, sự giác ngộ, sự soi sáng.
Nakula Một trong những người em trai Pāndava.
Narada Thánh nhạc sư và thánh nhân, là tín đồ của Sri Krishna.
Nirvana [nir ‘dập tắt’; vāna ‘thổi’] Dập tắt hoàn toàn ý chí cá nhân và riêng biệt; chứng ngộ về tính nhất thể của mọi đời sống.
nirvikalpa samadhi Một trạng thái nhận thức tâm linh trong đó không còn tính nhị nguyên, không còn trong/ngoài, chủ/khách thể; hoà nhập vào trong Thần tính phi nhân cách.
Om [hay Aum] Âm thanh vũ trụ, nghe thấy trong thiền định thâm sâu; là Thánh Ngôn, được dạy trong Upanishads biểu thị cho Brahman, nền tảng linh thiêng của hiện hữu.
Pandavas ‘Những con trai của Pāndu’, một danh xưng chung để chỉ Arjuna và bốn anh em của chàng, Yudhishthira, Bhīma, Nakula, và Sahadeva. Anh em Pāndavas xung đột với anh em Kauravas; cả hai cùng đòi ngai vàng xưa của Hastināpura. Tác phẩm Gita đặt vào bối cảnh trước lúc trận chiến sẽ quyết định cho cuộc xung đột này. Anh em Pāndavas thì dựa vào những lực lượng thiện hảo còn anh em Kauravas thì dựa vào những lực lượng chiếm đoạt độc ác.
Partha ‘Con trai của Prithā’, một cái tên để gọi Arjuna – hoặc để gọi các anh em của chàng là Bhīma và Yudhishthira.
Patanjali Tác giả của Yoga Sutras, một miêu tả kinh điển về con đường dẫn tới chứng ngộ Chân Ngã (Self-realization) qua thiền định. Patanjali đã sống vào khoảng thế kỉ 2 tCN, và phương pháp của ông đôi khi được xem là rāja yoga.
Pavaka ‘Tịnh hoả’, một danh xưng để gọi thần lửa.
Prahlada một vương tử dòng dõi quỷ nhưng hết sức sùng mộ thần Vishnu.
Prajapati ‘Chúa tể của dòng dõi’, ‘thần sáng tạo ra tất cả chúng sinh’. Thần thoại Hindu gồm nhiều câu chuyện, và đôi khi một Tổ phụ, hoặc Prajāpati được đề cập tới; đôi khi có bảy (hoặc nhiều hơn) người cha hoặc những bậc hiền giả đã tạo ra tất cả mọi chúng sinh.
prajna [do từ jna ‘hiểu biết’] một phương thức hiểu biết siêu nghiệm được khai triển trong thiền định thâm sâu.
prakriti Năng lượng cơ bản từ đó những thế giới tâm thức và thể chất hình thành; bản tính.
prana Hơi thở; sinh lực/khí.
Pritha Mẹ của Arjuna (cũng gọi là Kunti). Arjuna thì được gọi là is Pārtha, ‘con trai của Prithā.’
Purusha [‘người’] Linh hồn; tính linh; cái cốt tuỷ tâm linh của mỗi người. Trong Gita, những thuật ngữ Atman và Purusha hầu như có thể hoán đổi.
Purushottama ‘Ngôi vị tối cao’, Hiện thể Vô thượng, Thượng Đế.
raja yoga ‘Vương Đạo’; con đường thiền định đặc biệt được Patanjali dạy trong Yoga Sūtras.
rajas xem đề mục guna.
Rāma ‘Hoàng tử của Hoan lạc’, tên con trai của Dasharatha, vua xứ Ayodhyā. Rama là vị hoàng tử đã giết ác quỷ Ravana để lấy lại người vợ là nàng Sītā. Chàng được xem là hoá thân của Vishnu.
Rig Veda Tác phẩm có sớm nhất trong bốn pho Veda, là những bộ kinh cổ nhất và thiêng liêng nhất.
Rudras Các vị thần gắn liền với bão tố và huỷ diệt. Đôi khi Rudras được đề cập như là số nhiều; có khi được xem như một vị thần đơn độc, Rudra. Trong Hindu giáo sau này, Shiva đươc gọi là Rudra.
sadhana Một bộ phận những giới hạnh hay đạo sống dẫn tới mục tiêu tối cao là chứng ngộ Chân Ngã.
sadhu Một thánh nhân, thánh hiền.
Sahadeva Một trong những người em trai Pāndava.
Sama Veda Veda gồm những khúc ca và xướng tụng. Một trong bốn pho Veda.
samadhi sự kết hợp huyền nhiệm với Thượng đế; một trạng thái nhập định hay tập trung cao độ mà ý thức hoàn toàn được hợp nhất.
samsara Thế giới luân lưu (luân hồi); vòng tròn sinh, hoại, tử và tái sinh.
Sanjaya Nhà hiền triết đã tri kiến một cách thần thông những gì xảy ra trên chiến trường và tường thuật lại cho quốc vương mù Dhritarāshtra.
Sankhya hay Samkhya (Số luận) Một trong sáu trường phái triết học Hindu. Sankhya tìm kiếm sự giải thoát cá nhân.
sannyāsa Xả bỏ
sat [gốc từ as ‘là’] Cái Thật; chân lí; sự thiện hảo.
sattva xem mục từ guna .
satya Chân lí; chân thật; thiện, cái Thiện.
savikalpa samadhi [sa-vikalpa ‘có phân biệt’] Trạng thái samadhi (nhập định) mà tính nhị nguyên về khách thể và chủ thể vẫn còn duy trì, người nhập thiền không trở nên đồng nhất hoàn toàn với đối tượng chiêm ngắm; sự kết hợp với Thượng Đế hữu ngã (personal God).
Shakti Quyền năng; phương diện nữ tính của Thượng đế; Thần Mẫu.
shama An bình; sự an bình trong thiền định thâm sâu.
Shankara’Đấng ban sự an bình’, một danh xưng của Shiva.
Shiva Ngôi thứ ba trong Tam vị nhất thể của Hindu, hai ngôi vị kia là Brahma, đấng Sáng tạo, và Vishnu, đấng Bảo tồn. Shiva huỷ diệt, nhưng cũng chinh phục sự chết.
shraddha Đức tin, tín tâm.
shudra Đẳng cấp thứ tư của Hindu; người làm công hoặc nô bộc.
Skanda Vị thần chiến tranh, con trai của thần Shiva; thủ lĩnh của lực lượng thần thánh giao chiến chống bọn ác quỷ.
soma một loại thức uống dùng trong nghi lễ Veda; thức uống của chư thần.
Sri Một tước hiệu tôn kính, nghĩa gốc là ‘cát tường’ hay ‘thánh thiện’.
svadharma bổn phận thích hợp với một cá nhân, dharma cá nhân của một người.
tamas Xem mục từ guna .
tapas Khổ hạnh, kiểm soát giác quan; sức mạnh tâm linh có được qua sự tự chế ngự.
tyaga Xả bỏ
Upanishads [Áo nghĩa thư] những bản văn huyền nhiệm [minh giải triết học] và là phần kết thúc của mỗi tạng kinh Veda (gồm bốn tạng).
Ushanas Một nhà hiền triết và nhà thơ xuất hiện trong kinh Veda.
varna Đẳng cấp hay giai cấp.
Varuna Thần nước và đại dương; trong kinh Veda, là vị giám quản đạo lí của thế gian.
Vasuki Vua loài rắn hay Xà vương, sống dưới địa phủ và giữ cân bằng mặt đất trên cái mào rắn.
Veda [từ vid ‘hiểu biết’] ‘Tri thức’; tên của các thánh điển Sanskrit cổ xưa nhất, được xem là mạc khải trực tiếp từ Thượng Đế cho các nhà huyền học trong quá khứ.
vidya Tri thức, trí tuệ; một khoa học hay một nhánh nghiên cứu.
vijnana Tri thức, phán đoán, hiểu biết.
Vishnu Vị thứ hai trong Tam vị nhất thể; đấng Bảo tồn, ngài hiện thân trong mỗi thời đại để thiết lập dharma (chính pháp) và vì hạnh phúc của hết thảy chúng sinh.
Vivasvat Thần mặt trời, cha của Manu, tổ tiên loài người.
Vrishni Một bộ tộc quan trọng ở bắc Ấn cổ đại. Theo truyền thuyết, bộ tộc Vrishnis đã bị diệt vong vào cuối cuộc đời của Krishna khi thành phố Dvāraka của họ bị chìm xuống biển.
Vyasa Nhà hiền triết được kính ngưỡng như là tác giả của Mahabharata và Gita. Ông là cha của Dhritarashtra và Pandu, và ông đã ban cho Sanjaya quyền năng thị kiến thần bí để chứng kiến được cuộc đối thoại giữa Srī Krishna và Arjuna.
yajna Cúng dường, hiến tế, thờ phụng.
Yajur Một trong bốn tạng kinh Veda.
yoga [từ yuj ‘kết hợp’] Sự hợp nhất với Thượng đế, chứng ngộ tính nhất thể của hết thảy đời sống; một con đường hay giới hạnh dẫn tới một trạng thái hoà hợp toàn diện hay nhất thể. Yoga cũng là cái tên của sáu phái triết học Hindu giáo, bao gồm phái Sāmkhya.
yogi Một người thực hành những giới hạnh tâm linh.
Yudhishthira người anh cjủa Arjuna, nổi tiếng vì luôn tuân giữ dharma.
yuga Một thời kì hay thời đại. Trong vũ trụ luận Hindu, có bốn yuga, tiêu biểu cho sự thoái hoá đều đặn về trạng thái của thế giới từ thời này tới thời khác. Tên của các yuga được lấy từ một trò chơi súc sắc. Krita Yuga được cho là thời đại toàn hảo, tiếp theo là Treta Yuga. Sự hoá thân của Srī Krishna được cho là đánh dấu sự kết thúc yuga thứ ba, Dvāpara. Chúng ta đang sống trong yuga thứ tư và cuối cùng, là Kali, thời kì này tạo vật đi tới điểm thấp nhất. Thế giới này trải qua 1,000 những chu kì yuga trong một kalpa (kiếp) hay một Ngày của Brahman
[1] Tên 7 vị đại hiền: Atri, Bharadvaja, Gautama Maharishi, Jamadagni, Kashyapa, Vasistha, và Vishwamitra; 4 vị thuỷ tổ: Sanak, Sanandan, Sanatan, và Sanatkumar; 4 vị này là con của thần Brahma, loài người từ bốn vị này mà có. ND
Dịch từ nguyên văn: The Bhagavad Gita, bản dịch tiếng Anh với Dẫn nhập của Eknath Easwaran, và dẫn luận cho mỗi chương của Diana Morrison, Nxb Nilgiri Press 2007; ở đây đăng phần kinh văn Gita; toàn bộ phần Dẫn nhập và dẫn luận sẽ được in và xuất bản thành sách.