Hiển thị các bài đăng có nhãn ÂM NHẠC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ÂM NHẠC. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

Tám vũ điệu Chiêm Thành trong nhã nhạc Nhật Bản

Hà Vũ Trọng

01_BoTat

Niên đại 736, sử kí Nhật Bản công nhận sự du nhập âm nhạc Đông Dương, chủ yếu từ Chămpa do tăng sĩ Phật Triết truyền vào Nhật Bản. Phật Triết (âm Nhật là Buttetsu) sang Nam Ấn học với cao tăng Bồ Đề Tiên Na (Bodhisena), sau đó cả hai du hành sang Trung Quốc truyền đạo. Tới năm 736, Phật Triết và thầy qua Nhật Bản thể theo thỉnh cầu của các vị tăng của xứ này, họ trú ở Đại An Tự và Đông Đại Tự, và ở đó truyền dạy cho tới khi qua đời. Phật Triết được suy tôn là tông sư của Gagaku hay Nhã nhạc Nhật Bản, đặc biệt với loại vũ nhạc gọi là Rinyugaku hay Lâm Ấp Nhạc (Lâm Ấp vốn là tên gọi Chămpa theo sử sách Trung Quốc từ thế kỉ 2, tới thế kỉ 8 thì gọi là Hoàn Vương) mang sắc thái Phật giáo và Ấn giáo của Chiêm Thành trong biên chế nhã nhạc cung đình. Gagaku được truyền nhập qua các thời đại, chủ yếu bắt đầu từ thế kỉ 8 thời Nara (Nại Lương), lên đến cực thịnh giữa những thế kỉ 9 đến 11 trong thời Heian (Bình An). Ta cần lưu ý, loại âm nhạc trong đời Đường từ Trung Quốc và Hàn Quốc du nhập vào cung đình Nhật Bản thực chất là Yến nhạc (Engaku), trong khi loại Nhã nhạc đúng nghĩa nhạc lễ Nho giáo thì chưa từng được du nhập vào nước Nhật, như vậy khác với Việt Nam, có lẽ do nước Nhật đã có sẵn loại nhạc tế lễ của Thần Đạo. Cho đến thế kỉ 8, khi nghệ thuật vũ đạo và âm nhạc Phật giáo do Phật Triết truyền thụ trong các ngôi chùa lớn dưới sự bảo trợ của cung đình, thì sau đó mới thực sự được khai triển để thiết lập thể chế âm nhạc cung đình Gagaku.

Năm 752, trong ngày lễ lịch sử và trọng đại là Đại Hội Khai Nhãn Tượng Đại Phật Như Lai tại Đông Đại Tự (Tōdai-ji) do cao tăng Bồ Đề Tiên Na chủ trì buổi lễ và làm khai nhãn đạo sư. Triều đình muốn cử hành lễ cúng dường vào dịp này để đánh dấu 200 năm Phật giáo du nhập vào Nhật Bản, chùa Đông Đại Tự mời tới 25 ngàn tăng lữ ngoại quốc tới tham dự đại lễ, chủ yếu từ Đông Dương (gồm các nước Đông Nam Á và Ấn Độ). Vào dịp này, trước sự hiện diện của Hoàng đế và tất cả bá quan văn võ, trong lễ khai mạc Phật Triết là nhạc sư truyền thụ và cúng dường bằng Lâm Ấp Nhạc với những vũ điệu như Bồ Tát, Bạt Đầu, Bội Lư… Nhạc Lâm Ấp cũng được diễn tấu trong những sự kiện quan trọng khác như Đại Hội Cúng Dường Tu Sửa Đầu Tượng Đại Phật tại Đông Đại Tự, các buổi khánh yến của triều đình hay những trai hội ở các tự viện,… Vào năm 809, đã chọn ra ban nhạc công từ xứ Lâm Ấp ở Đại An Tự lên tới 107 người.

Những vũ điệu do Phật Triết truyền dạy được khai triển thành Nhã nhạc dưới triều Bình An (Heian) đã qua sự cải cách, trong nhạc chế gồm 8 khúc gọi là Lâm Ấp Bát Nhạc (Rinyu hachi gaku), có thể liệt kê:

1) Bosatsu (Bồ Tát)
2) Karyobin (Ca Lăng Tần)
3) Ryō-ō (Lăng Vương hoặc Long Vương)
4) Anma  (An Ma Nhị Vũ)
5) Bairo (Bội Lư)
6) Bato (Bạt Đầu -  phối hợp với vũ khúc khác là Hoàn Thành Nhạc còn gọi là Kiến xà nhạc)
7) Koinju (Hồ Ẩm Tửu)
8) Manjuraku (Vạn Thu Nhạc)

Dưới đây, ta hãy lướt qua từng vũ khúc trong Lâm Ấp Bát Nhạc.

01_BoTat_Bosat

Vũ điệu thứ nhất là Bồ Tát, từ thế kỉ 13 thực tế không còn thịnh hành và đã mai một trong cung đình, tuy nhiên vũ điệu Bồ Tát đeo mặt nạ (Gyoudoumen) ngày nay còn thấy trong những lễ rước cúng dường ở các chùa Phật giáo, đặc biệt tại Đương Ma Tự (Taima-dera) ở Nara, hằng năm chùa này đều diễn hí kịch và ca múa cảnh 25 vị Bồ Tát tiếp dẫn vãng sanh sang cõi Tịnh độ. Khúc Bồ Tát được cho là xưa kia vũ chung với vũ khúc thứ hai là Ca Lăng Tân, sau này được tách ra.  

 02_Karyobin05

Karyōbin hay Ca Lăng Tần Già (phiên âm từ tiếng Phạn: Kalaviṅka - Diệu Âm Điểu) là tên một loài chim quý của Ấn Độ có tiếng hót tuyệt hay. Kinh điển Phật giáo thường lấy âm thanh của loài chim này để ví cho tiếng vi diệu của chư Phật và Bồ Tát, hoặc xem như là loài chim của thế giới Cực Lạc. Trong nghệ thuật, hình tượng chim thần Ca Lăng Tần Già thường được thể hiện dưới hình dạng đầu người mình chim có đuôi dài, hoặc như là những thiên thần nhạc công (gandharva hay kinnari) múa vỗ trống bồng và dâng hoa mà ta thấy trong nghệ thuật điêu khắc Chămpa đặc biệt trên tháp Mẫm, hoặc chùa Phật Tích (thời Lí) và chùa Thái Lạc (thời Trần), đây chính là những vết tích của vũ điệu Chiêm Thành chim thần Ca Lăng Tần Già một thời thịnh hành trong các ngôi chùa thời Lí-Trần. Vũ khúc Ca Lăng Tần Già truyền qua Nhật Bản thường do 4 bé trai hay gái diễn, đeo vành hoa trên đầu và y phục mang đôi cánh chim tuyệt đẹp. Đôi chân của chúng nhảy dậm thoăn thoắt thật duyên dáng, vừa lắc đuôi chim theo từng bước vừa đánh cặp chũm choẹ bằng cả hai bàn tay, tiếng vo vo cao vút thật lạ kì như mô phỏng khúc ca diệu âm của chim Ca Lăng Tần Già.

03_LongVuong_  

03_LongVuong--
Khúc thứ ba, Lăng Vương hay Long Vương, danh khúc này với phong cách lữ luật tuyệt đẹp đặc trưng cho Lâm Ấp Nhạc, vũ điệu này trội bật trong những điệu vũ tương đối nhanh gọi là tẩu mã (hashiri-mai) trong Tả nhạc. Long Vương là điệu múa độc diễn, người diễn mặc y phục gồm áo dài thắt ngang lưng có dải tua, quần chẽn bó ống, đeo mặt nạ rồng với cái mũi nhọn, cặp mắt lồi “động nhãn” và hàm răng to có thể cử động khi diễn, tạo vẻ mãnh liệt hùng hậu cùng những nếp nhăn trên khuôn mặt và những gợn tóc dập dờn được khắc trên trán. Long Vương cũng như các vũ điệu Gagaku khác, bắt nguồn từ những động tác múa Nata của Nam Ấn. Qua so sánh về động tác vũ đạo của Long Vương, nhà nghiên cứu văn hoá Vũ Ngọc Liễn đã cho rằng sự hình thành sân khấu hát bội Bình Định sau này vốn bắt nguồn từ hình thái nghệ thuật sân khấu ‘Phạn hí’ hay Kịch Nhà Chùa của Chămpa mà ngay từ thế kỉ thứ 8 đã đạt đến trình độ có kịch bản thành văn. Vũ điệu Long Vương rút từ vở tuồng nổi tiếng của Ấn Độ là Nagananda (Xà hỉ) về câu chuyện Bồ tát Đằng Vân đã hi sinh thân mình để cứu con rồng (naga), hay là những hình tượng về Hộ Pháp Vương hay Bát Đại Long Vương từ sự tích trong kinh Jataka (Bảo Sanh). Những lễ hội dân gian ở Nhật từ thời Bình An, thường phối hợp điệu vũ Long Vương với chức năng để cầu mưa, vì rồng là vị thần coi về nước, mưa và phương Đông. Hơn nữa, trong Genko Shakusho (Nguyên Hanh Thích thư) là sách sử viết về các nhà sư danh tiếng, miêu tả Phật Triết là một nhà sư nhân từ và vĩ đại, ông có pháp thuật và từng đối thoại với một con rồng biển.


Vũ khúc thứ tư, An Ma Nhị Vũ, là vũ điệu một cặp vũ công (nam nữ lớn tuổi) đeo mặt nạ bằng lụa trắng vẽ bằng mực đen trên đó những hình dạng trừu tượng. Hai nhân vật tương tự các vị thần A-tu-la thờ trong các đình miếu và mang sắc thái pháp thuật, tay cầm cái hốt làm những động tác vừa phất vừa ngâm xướng.

Vũ khúc thứ năm Bội Lư (Bairo - từ tên vị thần Ấn giáo là Bairava biểu hiện cho cơn thịnh nộ và huỷ diệt của thần Shiva) là vũ khúc nhóm bộ tứ, tương tự những điệu múa kiếm và là vũ khúc chiến binh.

06_Bat-dau_Bato

Vũ khúc thứ năm Bạt Đầu (Batô) là vũ khúc đơn mà Phật Triết truyền thụ cho các nhạc công ở Tứ Thiên Vương Tự (Shitennoji). Hình ảnh chính: một vũ công đang quỳ như thể tuyệt vọng, mái tóc rũ xuống che kín mặt. Cái mặt nạ biểu hiện tâm trạng hoàn toàn cô độc và u sầu của người con trai đang khóc thương Cha bị hổ vồ chết. Truyền thuyết kể, để báo thù cha, người con lang thang trong rừng cho tới khi gặp được con hổ. Sau một trận chiến kịch liệt, người con nhảy một vũ điệu chiến thắng. Theo nhà nhạc học Tanabe Isao, trong nhạc chế cung đình thời Bình An, vũ khúc Bạt Đầu chia thành hai khúc, nửa đầu là Bạt Đầu nửa sau là Kiến Xà nhạc tức Hoàn Thành nhạc (Genjoraku) với nhân vật khuất phục một con rắn, cả hai đều có những điểm tương tự về vũ đạo, nhân vật, y phục của Tây Vực.



Vũ khúc thứ bảy Hồ ẩm tửu (Koinju) đeo mặt nạ màu đỏ tượng trưng sự say sưa, cái mũi to tướng đặc trưng cho người Hồ hay Tây Vực. Tiếp theo 7 khúc vũ nhạc Lâm Ấp nói trên do Phật Triết làm nhạc sư truyền thụ ở Đại An Tự, 10 năm sau, trong Lễ hội ở Đại Phật điện của Đông Đại Tự, ngài công khai truyền thụ vũ nhạc thứ 8 là Vạn Thu Nhạc, đây là một đại khúc, vũ công gồm 6 hoặc 4. Âm nhạc vốn là bộ môn giáo dưỡng bắt buộc của giới quý tộc và cung đình mà trong đó Vạn Thu Nhạc là vũ nhạc tiêu biểu và là bí khúc được bảo lưu riêng. 

Như vậy, suốt mười mấy thế kỉ, nước Nhật tàng chứa một kho báu nghệ thuật vô giá và đa văn hoá, đó là nền vũ nhạc cung đình gọi chung là Nhã nhạc hay Gagaku, ngoài bản địa ra còn bao gồm nhiều nền vũ nhạc quốc tế như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Mãn Châu, Thái Lan, Ba Tư…. đặc biệt quan trọng là vũ nhạc Chămpa (hay Đông Nam Á) với công trạng của Phật Triết. Qua thời gian với những biến thiên và thăng trầm, Gagaku hiện vẫn tồn tại như một điểm hội tụ và hợp lưu giữa những truyền thống vũ nhạc châu Á cổ điển.

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

BUTOH - VŨ ĐẠO CỦA BÓNG TỐI

Hà Vũ Trọng
Tưởng niệm tháng 8 Mưa Đen lần thứ 68


Tuy bắt đầu hiện đại hoá từ trước Thế Chiến Hai, nhưng chỉ sau khi hai trái bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki vào tháng 8.1945, Nhật Bản mới thực sự trải qua một không khí tự do gần như hoàn toàn thoát khỏi những chuẩn mực nghiêm khắc và ước lệ xã hội, và cũng cho nước Nhật cơ hội tạo nên một loại văn hoá mới và xây dựng lại hình ảnh của họ. Trong Thế Chiến Hai, sự biểu lộ và sáng tạo nghệ thuật bị hạn chế vì quốc gia này tìm cách dẫn đạo nghệ thuật nhằm phù hợp với ý đồ chiến tranh, đồng thời cấm đoán và kiểm duyệt mọi loại hình ca, múa, kịch của phương Tây và những thứ khác. Chỉ sau khi Nhật đầu hàng và Hoa Kì chiếm đóng sau đó đã khiến chấm dứt việc kiểm duyệt này. Chẳng bao lâu sau dẫn tới một cuộc bùng nổ sáng tạo, những hoạ sĩ, nhà văn và diễn viên múa, họ đem nghệ thuật xuống đường, tham dự và dựng kịch nghệ đường phố, và dấn mình tích cực vào những cuộc biểu tình của giới sinh viên. Chính không khí này đã khởi hứng cho Tatsumi Hijikata, với sự trợ giúp của Kazuo Ohno, sáng tạo nên một hình thức nghệ thuật múa mới lạ hoàn toàn, có tên gọi là Butoh  (hay Butō 舞踏 Vũ đạo).

Thời điểm ấy, vũ đạo phương Tây trở nên thịnh hành, trước tiên ở Tokyo, rồi khắp nước Nhật. Trong những năm 1950, các trường dạy vũ đạo hiện đại đã mọc lên và nở rộ khắp Nhật Bản, và đoàn múa như Martha Graham  của Hoa Kỳ sang nước Nhật đã ảnh hưởng rất lớn tới vũ đạo hiện đại Nhật vào thời đó.

Năm 1959, Butoh công diễn ra mắt lần đầu tiên trong Lễ hội Vũ đạo Hiện đại ở Nhật Bản với vở múa Kinjiki (Cấm sắc hay Sắc màu bị cấm) của Hijikata và Yoshito Ohno (con trai của Kazuo Ohno). Hijikata và Kazuo Ohno cả hai là những người sáng lập của Butoh. Hijikata sinh năm 1928 ở một thành phố nhỏ thuộc miền Bắc thuộc quận hạt Akita.

Tên khai sinh của Butoh là Ankoku Buyo nghĩa là ‘vũ đạo hắc ám’, được sinh ra từ không khí sáng tạo trong thời hậu chiến, “mang đặc chất Nhật” rút ra từ tuồng Noh và Kabuki. Ankoku tức là sự hắc ám, tăm tối của tâm hồn, hắc ám của xã hội. Hijikata tìm cách phát lộ cho thấy cái sự thực rằng vẻ dị hình, xấu xí và hắc ám kia đã và đang tồn tại trong chính nước Nhật, vốn là những chủ đề thường xuyên bị che đậy, tránh né và bị làm ngơ. Những chủ đề gây dị nghị khác, đặc biệt là đồng tính nam, cũng được thăm dò trong Butoh. Butoh cũng chịu ảnh hưởng của vũ đạo trường phái Biểu hiện của Đức vốn đã hấp thu từ cuối thập niên 1930, tìm cách phối hợp những yếu tố như tụng, chú, tiếng nhạc ầm ĩ, những lối biểu hiện kịch tính và gây cảm xúc. Hijikata bị thu hút do những tư tưởng mới lạ của phương Tây, ông đặc biệt cảm hứng từ “tranh của Bosch, Breughel, Goya, và từ chủ nghĩa Siêu thực, Dada, và sau đó là Pop Art của những năm 1960. Và cũng do được khởi hứng bởi những nhà văn như Mishima, Lautréamont, Artaud, Genet và de Sade, ông đã tìm tòi trong cái cõi kì dị, chắc ám, và băng hoại. Đồng thời, Hijikata khai phá sự biến chất của thân thể thành những hình thái khác, như của các loại động vật. Ông cũng khai triển một loại ngôn ngữ vũ đạo siêu thực và thi vị, gọi là butoh-fu (Vũ đạo phổ) để giúp người vũ công chuyển hoá thành những trạng thái khác trong cái cõi chúng sinh.

Loại sơn trắng bôi mặt mà vũ công Butoh thường dùng để bôi lên khắp thân thể, vốn  được lấy trực tiếp từ tuồng Kabuki, trong khi những động tác chậm rãi, đầy ý nghĩa và trì tục giống với với động tác của tuồng Noh. Sự thiếu vắng vẻ biểu lộ của nhân tính,và muốn thể hiện bản thân qua sự phi nhân tính là đặc điểm chia sẻ giữa tuồng Noh và Butoh. 




Đoàn vũ đạo Dairakudaka

Video: Kazuo Ono, The Dead Sea (Tử Hải)


Có thể do vũ đạo vốn dĩ là vô ngôn, vì vậy nó không nói thẳng, và Butoh thể hiện bằng những cách khác thường khi nổi loạn không chỉ chống lại những khuôn sáo nghệ thuật truyền thống mà còn chống lại những ước lệ đã được chấp nhận của một xã hội có thiết chế nghiêm khắc. Rõ ràng trong cuộc nổi loạn chống lại nước Nhật cũ, Butoh đã tìm cách phá vỡ kịch nghệ và vũ đạo ước lệ, các vũ công Butoh thường trình diễn loã thể, thân thể sơn toàn màu trắng. Sự loã thể không hổ thẹn của Butoh đã đẩy một bước xa khỏi với tính nhã nhặn kiểu Nhật. Sự kiện Nhật Bản kí kết Hiệp ước Hỗ tương Quốc phòng với Hoa Kì ngày 8.9.1945 đã châm ngòi cho cuộc biểu tình bạo loạn của người Nhật, cũng đã là nhiên liệu sáng tạo của Hijikata. Những thân thể loã lồ, trắng bệch nhảy mủa trên sân khấu ẩn dụ cho sự tự hào, vô liêm sỉ của quốc gia Nhật, trước Thế Chiến Hai, và sự Tây hoá của Nhật. Tuy thế, những thân thể méo mó, dị hình của Butoh có thể xem như công nhận về sự thất bại của Nhật Bản. 




Đoàn vũ đạo Sankai Juku

Vở múa Kinjiki (Cấm sắc) dựa trên tiểu thuyết của Yukio Mishima về đồng tính nam. Trước một đám khán giả khoảng 200 người, Hijikata đã tạo hiệu ứng giao cấu với một con gà, và siết chặt con gà này giữa đùi. Theo báo chí tường thuật, “có một vài khán giả đã ngất xỉu.” Chẳng bao lâu sau, Hijikata bị dán nhãn hiệu là diễn viên “nguy hiểm” do cái thế ưu thắng của nền vũ đạo Nhật. Còn “Đám khán giả bình thường cứ thắc mắc không biết những vũ công này có phải đã trốn khỏi nhà thương điên hay không.” 

Một ví dụ đặc biệt khác cho thấy bước ngoặt Butoh rẽ ra khỏi chủ nghĩa bảo thủ và truyền thống Nhật là vở múa Xác thịt nổi loạn của Hijikata, than vãn cho cái chết của nước Nhật, theo một mô tả: “Hijikata bề ngoài như quỷ ám, ông được khiêng lên sân khấu trên cái kiệu, dưới một cái lọng; cạnh ông, một con thỏ lòng thòng trên cái sào, một con gà trống bị treo móng chân lên. Trong một cái khố bằng dây đựng dương vật nhô lên, Hijikata giựt xốc người mạnh và dậm dật theo tiết nhịp từng cơn.Trong cảnh khác, ông xuất hiện với bộ áo đầm. Ở cao trào, ông treo lơ lửng ngang sân khấu, dây thừng quấn quanh người, như thể ông bị phanh thây hoặc trong tư thế bị đóng đinh.” 




Hijikata trong Xác thịt nổi loạn

Video: Hijikata với ba chương Butoh

Butoh, một trào lưu nghệ thuật đơn độc, tuy đã không thể tác động mạnh lên chính xã hội Nhật, mặc dù khi tập hợp những tác phẩm ảnh hưởng đến nghệ thuật và chính trị vào cuối thập niên 1940 cho tới 1960, chúng ta thấy rằng hiệu quả của nó thật đáng kể. Khác với Michio Ito, một đồng nghiệp lẫy lừng, chu du và trình diễn khắp phương Tây và cũng ảnh hưởng rất lớn lên vũ đạo Nhật Bản hiện đại, Hijikata (1928-1986) trọn đời mình gói trọn ở nước Nhật, ông từ chối nhận thẻ hộ chiếu, vì ông thấy rằng không cần thiết ra khỏi nước Nhật. Đây cũng là một ẩn số của các nghệ sĩ Nhật Bản khi họ đã đạt được thành công ở Nhật nhưng thấy rất khó được sự công nhận danh tiếng ở các nước phương Tây. Những diễn viên người Nhật rời đất nước, đã thành tựu bên ngoài và rồi trở về quê nhà được đối đãi như những người hùng và được kính nể, trong khi nếu ở Nhật họ không được như vậy. Hiển nhiên, Hijikata chưa từng bước chân khỏi nước Nhật, và sự truyền bá của vũ đạo Butoh khắp thế giới sau đó đã trở lại làm gia tăng sự thịnh hành của nó ở Nhật. Butoh trong hiện tại không còn là “Butoh” như trước, mà được xem là “hậu-Butoh”, vì tuổi của nó đã xấp xỉ ngoài năm mươi kể từ buổi diễn Kinjiki. Xưởng vũ đạo của Hijikata, Asubesto Kan,  sau khi ông qua đời vẫn còn duy trì, trong khi đó nhiều học trò của ông đã toả ra khắp theo những hướng riêng của từng người. Khác với loại vũ đạo thu hút đám đông, dành cho Hollywood, với những màn hào nhoáng sân khấu. Cái chất kì dị, sống sượng và thật của Butoh, trực diện chạm trán với những hoàn cảnh và chủ đề như cái chết, đồng tính, trạng thái điên loạn và nhiều chủ đề cấm kị khác vốn bị nước Nhật bỏ quên nhiều thế kỷ. Và khác với quan niệm thông thường cho rằng “vũ đạo không thể tách lìa khỏi âm nhạc”, thì Butoh có thể múa mà không cần nhạc, hoặc đôi khi không cần khớp với tiết tấu của nhạc.

Butoh ngày nay được khắp thế giới biết đến, nhiều đoàn múa Butoh luôn tạo ra tác phẩm mới, ở Hoa Kỳ, Canada, châu Âu, Mexico, Australia, Nam Mĩ, và cả châu Phi. Ở Tokyo người ta có thể xem Butoh hàng đêm. Các vũ công khắp thế giới đã bổ sung thêm phong cách văn hoá của họ vào Butoh, chẳng hạn ở MexicoDiego Piñón, học trò của Yoshito Ohno, đã tạo ra loại hình Butoh kết hợp với vũ điệu nghi lễ Mexicano. Hoặc nghệ sĩ biên đạo múa Ea Sola Thuỷ, tác giả Hạn hán và cơn mưa, cũng xuất thân và từng “ăn nằm” với Butoh, và người nghệ sĩ này đã bỏ công quan sát từng động tác của người nông dân, của nghệ thuật chèo cổ, vv… và đã rút ra một loại ngôn ngữ vũ đạo riêng để khai triển trong tác phẩm của mình.

Tatsumi Hijikata luôn tin rằng “Butoh vẫn còn chưa thành tựu”, vì Butoh là một tiến trình không có kết thúc. Tất cả vũ đạo là vô cùng, không thể nào dứt, vì nó còn mãi đánh thức cái “đời sống nguyên sơ” vốn còn ngủ say trong thân thể mỗi người. 

Vũ đạo Sankai Kuju
__ 

Tham khảo: 

- Sondra Horton Fraleigh, Dancing Into Darkness: Butoh, Zen, and Japan, University of Pittsburgh Press, 2010

- Kyoto Journal
- Wikipedia: "Butoh"
Bài đã đăng trên Thể thao và Văn hoá cuối tuần 16.8.2013

Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014

Chiêm ngắm Đoá hoa Vô thường



Trịnh Công Sơn

ÐOÁ HOA VÔ THƯỜNG


 I
Tìm em tôi tìm
Mình hạc xương mai
Tìm trên non ngàn
Một cành hoa khôi
Nụ cười mong manh
Một hồn yếu đuối
Một bờ môi thơm
Một hồn giấy mới

Tìm em tôi tìm
Nhủ lòng tôi ơi
Tìm đêm chưa từng
Tìm ngày tinh khôi
Tìm chim trong đàn
Ngậm hạt sương bay
Tìm lại trên sông
Những dấu hài

Tìm em xa gần
Ðất trời rộn ràng
Tìm trong sương hồng
Trong chiều bạc mệnh
Trăng tàn nguyệt tận
Chưa từng tuyệt vọng đâu em

Tìm trong vô thường
Có đôi dòng Kinh
Sấm bay rền vang
Bỗng tôi thấy em
Dưới chân cội nguồn
Tôi mời em về
Ðêm gội mưa trong
Em ngồi bốn bề
Thơm ngát hương trầm

Trong vườn mưa tạnh
Tiếng nhạc hân hoan
Trăng vàng khai hội
Một đoá hoa quỳnh



II

Từ nay tôi đã có người
Có em đi đứng bên đời líu lo
Từ nay tôi đã có tình
Có em yêu dấu lẫy lừng nói thưa

Từ em tôi đã đắp bồi
Có tôi trong dáng em ngồi trước sân

Mùa đông cho em nỗi buồn
Chiều em ra đứng hát kinh đầu sông
Tàn đông con nước kéo lên
Chút tình mới chớm đã viên thành

Từ nay anh đã có nàng
Biết ơn sông núi đáp đền tiếng ca
Mùa xuân trên những mái nhà
Có con chim hót tên là ái ân



III

Sen hồng một nụ
Em ngồi một thuở
Một thuở yêu nhau
Có vui cùng sầu
Từ rạng đông cao
Ðến đêm ngọt ngào
Sen hồng một độ
Em hồng một thuở xuân xanh
Sen buồn một mình
Em buồn đền trọn mối tình

Một chiều em đứng cuối sông
Gió mùa thu rất ân cần
Chở lời kinh đến núi non
Những lời tình em trối trăng
Một thời yêu dấu đã qua
Gót hồng em muốn quay về
Dù trần gian có xót xa
Cũng đành về với quê nhà


IV
Từ đó trong vườn khuya
Ôi áo xưa em là
Một chút mây phù du
Ðã thoáng qua đời ta
Từ đó trong hồn ta
Ôi tiếng chuông não nề
Ngựa hí vang rừng xa
Vọng suốt đất trời kia
Từ đó ta ngồi mê
Ðể thấy trên đường xa
Một chuyến xe tựa như
Vừa đến nơi chia lìa

Từ đó ta nằm đau
Ôi núi cũng như đèo
Một chút vô thường theo
Từng phút cao giờ sâu
Từ đó hoa là em
Một sớm kia rất hồng
Nở hết trong hoàng hôn
Ðợi gió vô thường lên
Từ đó em là sương
Rụng mát trong bình minh
Từ đó ta là đêm
Nở đoá hoa vô thường.

*

Nếu chiêm ngắm kĩ, bạn sẽ thấy con người là một bông hoa năm cánh. Một thiền giả Nhật đã có chiêm nghiệm như vậy.

“Giao hưởng thơ” Ðoá hoa Vô thường là một dụ ngôn/ẩn dụ bằng ý thơ nẻo nhạc để kể về cuộc hành hương đi tìm ý nghĩa của tình yêu, nghệ thuật và cái chết. Tương tự như trong truyền thuyết đi tìm Ðoá thiên thanh (Blaue Blume) biểu trưng cho nghệ thuật của thi sĩ Lãng mạn Ðức Novalis -- Một cuộc luyện đan (alchemy) trong tình yêu và nghệ thuật. Hoặc gần với Thiền tông hơn, nó  được luân diễn trong 10 bức tranh chăn trâu, là hình ảnh kẻ mục đồng hay hành giả/lữ khách lạc nẻo giữa đồng hoang nội cỏ, khởi đi tìm cái tâm (chân như) của chính mình đã đánh mất trên siêu lộ mê ảnh trong cõi sinh tử chập chùng mộng mị...

Bốn “chương” (movement) nhạc của Ðoá hoa Vô thường tương ứng với bốn mùa hay bốn tâm cảnh về một đời người, như vòng “quy hồi vĩnh cửu” (eternal recurrence) trong Một cõi đi về. Lối tiến hành âm hình giai điệu của Ðoá hoa Vô thường là một cuộc chuyển hoá liên tục giọng, điệu tính, tiết nhịp, tâm thái... trong từng đoạn, câu hoặc tiết nhạc. Ý thơ dựa trên một chủ đề chính tái hiện nhiều lần là bông hoa xuyên suốt tác phẩm. Sự chuyển hoá sắc thái liên tục này làm gợi nhớ tới ý niệm “giao hưởng thơ”  [symphonic poem của các nhà soạn nhạc Ðức như Franz Liszt thời Lãng mạn] đưa ra tính tự do của một nhạc thể và khả năng sử dụng dàn nhạc như một bảng pha màu, từ đó vẽ ra một bức tranh linh động bằng âm thanh-hình ảnh.


Chương I

Tìm tình, nhịp thong dong
Khởi đầu bằng thể hát kể đồng dao bốn chữ Tìm em tôi tìm... như nhịp chân rảo bước đi tìm Tình trong vẻ Ðẹp mà hình ảnh thanh tao hiện thân trong mình hạc xương mai. Bước đầu tìm trong cái đơn độc, cái một: tìm trên non ngàn một cành hoa khôi -- hiển hiện trong đoá hoa tinh khôi đó là nụ cười mong manh, một hồn yếu đuối, một bờ môi thơm mang tấm lòng sơ nguyên của một hồn giấy mới. Khiến chúng ta liên tưởng tới những vần thơ tình tâm linh diễm tuyệt “vì tình tôi phải tìm tình” trong Nhã Ca (Kinh Thánh) hoặc trong Tụng ca Tâm linh [của San Juan de la Cruz] để đi tới chỗ kết hợp huyền nhiệm (unio mystica).

(rộn rã bồi hồi)
Ðường nét “hướng thượng” trong giai điệu này: “Tìm em tôi tìm nhủ lòng tôi ơi...”  là nỗi quyết tâm tìm trong cả những thấp thoáng ảo hoá (maya) của vạn vật đắp đổi; thời gian: tìm đêm chưa từng, tìm ngày tinh khôi. Trên trời: tìm chim trong đàn ngậm hạt sương bay. Dưới đất: tìm lại trên sông...  những dấu hài. Từ thơ bốn chữ giờ còn lại còn ba chữ: những dấu hài...  giọng ngậm ngùi tưởng nhớ.  Ở đây “tình lại gặp tình” lần tìm theo chỉ thấy từng bước in rêu của một hồng nhan bạc mệnh...
(Trầm tưởng).

(Dịu lắng)
“Tìm em xa gần đất trời rộn ràng...” lòng người đi tìm bây giờ đã lắng xuống để quán tưởng mà ôm lấy đất trời xa gần trong cả cái tính phù du, bạc mệnh, tàn và tận của tấn tuồng ảo hoá đó: Tìm trong sương hồng, trong chiều bạc mệnhtrăng tàn nguyệt tận, chưa từng tuyệt vọng đâu em. Thêm hai chữ đâu em như lời nhắn nhủ mãi mãi tới cõi phù sinh này (Ðừng tuyệt vọng tôi/em ơi đừng tuyệt vọng...).

(Rộn ràng)
Từ thể hát đồng dao giờ hoá thành bài kệ (gatha) tụng reo:

Tìm trong vô thường
Có đôi dòng Kinh
Sấm bay rền vang
Bỗng tôi thấy em
Dưới chân cội nguồn...

Là lúc cảnh giới của đất trời giao hội từ khi câu Kinh đã bước vào đời (Nguyệt ca) -- đôi dòng Kinh Sấm ("Ưng vô sở trụ, nhi sanh kì tâm"-Kinh Kim cang) bay rền vang là ánh kim cương chẻ toang bóng tối âm u...  Cũng chính là lúc bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn – cội nguồn của chân như, bản lai diện mục – Người Tình hay cái Tâm sẽ tự hiển hiện cho thấy khi thôi tìm trong hình sắc, âm thanh... Giờ tôi mời em vềtrong đêm thiêng liêng có ơn mưa trời gội rửa tuôn tưới. Em giờ hiện hữu ở khắp bốn bề tẩm hương trầm thơm ngát. [Tiếng đàn... như tiếng mưa nhỏ giọt]. Khi vườn mưa tạnh, tiếng nhạc liền cất lên hân hoan để soạn sửa cho cuộc lễ mạc khải thiêng liêng dưới ánh trăng vàng: một đoá hoa quỳnh trong ngọc trắng ngần lồng với bóng trăng tròn. Cũng từ lòng đoá hoa tố tâm đó mở ra [chỉ trong một đêm thắp sáng] mà vạn vật được phản chiếu và mở phơi như trong một tấm gương trong. Cái nôi vũ trụ tình yêu nhiệm màu đó là những ngón tay xoè bung ôm lấy tất cả làm Một.

Tới đây lời thơ ngưng. [Tiếng đàn... giờ là ánh trăng lung linh tĩnh mặc] để chiêm ngắm vẻ đẹp của đoá ngọc quỳnh. Như cái thị kiến ân sủng (beatific vision) của thi sĩ Dante chói mắt trước ánh sáng tâm linh phát toả từ tình yêu được kết thành đoá hoa hồng trắng.


Chương II

Ðưa tình về, nhịp hớn hở  (Nhạc...)
Thanh thoảng (Nhạc...)

Bình an
Từ khi có duyên hội ngộ, đã có tình là có đối đáp. Lời thơ chuyển sang thể lục bát trữ tình để bày tỏ khoảng an bình khi cả hai đã có nhau như hình với bóng. Bằng một nhịp thơ liền lạc, vui và đầm ấm: “Từ nay tôi đã có người, có em đi đứng bên đời líu lo...  Từ em tôi đã đắp bồi, có tôi trong dáng em ngồi trước sân.”  

Hát tự do
Giọng chuyển đột ngột chùng xuống thành khúc hoài cảm (melancholy) đượm vẻ nuối tiếc, man mác, buốt lạnh như lời linh cảm trước cho tính bạc mệnh của đoá hoa “mới chớm đã viên thành” như nụ tình ái Kim-Kiều. Mùa đông cho em nỗi buồn, chiều em ra đứng hát kinh đầu sông... chút tình mới chớm đã viên thành.

Và tàn đông con nước kéo lên đợi mùa xuân tới:

Nhịp nhàng thơ thới

Ðiệp từ Từ nay... đã luôn được nhắc lại, cung giọng bây giờ cao và nhấn nhá vui hơn. Toàn chương II diễn tả một cuộc “đối đáp” nói–thưa (đối điểm/counterpoint), đắp-bồi giữa hai bè ngôi thứ khởi từtôi-người, tôi-tình sang tôi-em; cho tới đoạn này là anh-nàng để đồng xướng (homophony) một chữ . Ở đoạn này như là giai điệu chim hót trầm bổng cùng với tiếng ca đồng thanh của đất trời sông núiđáp đền tới cuộc hội ngộ từ khi đã có... Từ nay anh đã có nàng, biết ơn sông núi đáp đền tiếng ca. Mùa xuân trên những mái nhà, có con chim hót tên là ái ân.



Chương III
Bốn mùa yêu nhau trong lẽ vô thường của trời đất
(Nhạc chuyển...  Chậm lại...)

Bình an
Khúc arioso (vịnh tự khúc): “Sen hồng một nụ...” Chuyển từ hình ảnh đoá quỳnh trắng của chương I sang một hoá thân khác là nụ sen hồng đang ngồi đong đưa -- khoảng cách từ “thơ ngây” tới “kinh nghiệm” -- bằng một giọng kể hoài tưởng lại thời thanh xuân êm đềm chuyển sang sắc màu “chín” của tình yêu đã nếm trải từ rạng đông cao đến đêm ngọt ngào. Bảng màu “mùa xuân chín” rõ rệt hơn: Em hồng một thuở xuân xanh... giờ còn lại nỗi buồn hoài niệm để đền trọn mối tình. (Hồng đi nhé xin hồng với nụ. Vàng phai sẽ cuốn đi mịt mù – Vàng phai trước ngõ).
(nhạc chuyển...)

Hiu hắt
Từ đây chuyển đoạn trầm xuống hiu hắt như tiếp nối đoạn hoài cảm ở chương II nhưng đã trở thành thể thơ độc thoại sáu chữ. Một chiều em đứng cuối sông, gió mùa thu rất ân cần chở lời kinh đến núi non, những lời tình em trối trăng...” Cuộc tình đã trải qua cả hạnh phúc lẫn khổ đau, và thân phận lưu lạc hoa trôi bèo dạt, lênh đênh từ đầu sông cho tới cuối sông đoạn trường “tính từ sông nước cát lầm”. Cánh gió mùa thu chở lời Kinh hát về thân phận gửi tới non nước quê nhà. Một thời yêu dấu đã qua. Giờ đây gót hồng (gót sen/đôi chân hồng trần củaThuý Kiều) mong mỏi được quay về. Từ khúchoài cảm ở trên giờ hợp lại trở thành khúc hoài hương (nostalgia) trối trăng rằng: dù trần gian có xót xa cũng đành về với quê nhà.

(Con sóng biển dâu đã mang tình về quê quán cũ)
[Nhạc...]


Chương IV

(Nhạc chuyển... ) Rộng rãi
Dồn dập vừa
Mênh mông

Tình đi, người ở lại -- (Ðoạn cuối)
Êm đềm, xa vắng

Khúc 1: “Từ đó trong vườn khuya, ôi áo xưa em là một chút mây phù du, đã thoáng qua đời ta...”.
Khúc bi ca (elegy) u huyền này bằng thể thơ tự sự năm chữ, là tiếng thở dài mênh mang khi tình đã đi, người ở lại.  Có thể diễn tả lại bằng lời thơ trong Lửa Thiêng:
Bóng đêm toả không lấp niềm thương nhớ, 
Tình đi mau, - sầu ở lại lâu dài.
Ta đã để hồn tan trong tiếng thở
Kêu gọi người đưa tiễn nỗi tàn phai.
                                               (“Bi ca” – Huy Cận)

Từ cảnh vườn đêm hội ngộ có ánh trăng vàng mạc khải của chương I tới cảnh vườn khuya cô tịch trong chương cuối này, là nỗi thấu cảm tính phù du của chữ tình, của vẻ đẹp mong manh là hình ảnh chính cái chết. Từ đó trong hồn ta, ôi tiếng chuông não nề...Nỗi tuyệt vọng mênh mang, nhịp tim xao động trong lòng là tiếng chuông não nề văng vẳng như tiếng chuông cầu hồn. Tiếng ngựa hí vang rừng xa vọng suốt đất trời kia, mang tính ẩn dụ đầy âm-hình (audio-visual) loan báo cho giờ phút khởi hành chuyến xe cuối cùng của đời người. Từ đó ta ngồi mê, để thấy trên đường xa, một chuyến xe tựa như, vừa đến nơi chia lìa.

(Tình do tâm mà sinh, có khi tình mất mà tâm còn động vọng. Ðến lúc tâm bình an thì tình kia cũng đoạn nỗi).
[Nhạc] Mạnh và liền nhau

Êm dịu lại
Khúc 2: “Từ đó ta nằm đau, ôi núi cũng như đèo, một chút vô thường theo...”
Bài tự tình khúc cuối này như bức tranh thuỷ mặc của cõi tâm bao la vô cùng.
Từ đó... từ chốn vô thuỷ vô chung để mà chiêm nghiệm toàn cảnh lộ trình đã qua của người nghệ sĩ – kẻ hành hương -- giờ nằm đau dạt dào bi cảm trước cái như tính của vẻ đẹp, của sự vật; chẳng còn biện biệt nữa không gian (ôi núi cũng như đèo) với thời gian (từng phút cao giờ sâu) để rồi nhập vào với trạng thái tịnh mặc (samadhi) ngay trong nỗi đau – [ở một nghĩa nào đó] là đang trải qua kinh nghiệm về cái chết. Ði vào cõi chết như một âm điệu ngân vang rồi cũng sẽ chìm trôi vào với cái tịch lặng: cõi đi về thiết yếu của âm nhạc, của chính đời người.

Từ đó -- tình yêu là hoa nở hồng ban sớm nở hết trong hoàng hôn, vẫn còn mãi khát mong, lại phải nhờ tới ngọn gió vô thường thổi qua để tiếp tục hoá thân thành sương tinh khiết rụng mát trong bình minh.
Vườn khuya đoá hoa nào mới nở,
Ðời ta có ai vừa qua...
                      (Ðêm thấy ta là thác đổ)
Từ đó ta là đêm, nở đoá hoa vô thường.
Từ đó -- người đi hành hương nhập thể vào với bóng đêm vô tận (là cõi chân không) để nở ra đóa hoa vô thường: người chiêm ngắm [đoá hoa] đã trở thành cái [đoá hoa] mà mình chiêm ngắm. Vẻ đẹp của đoá hoa vô thường là nở ra nụ cười khúc khích trên lưng đài gương của cái dục mang hương sắc hoa tình của cái chết.

Từ đó -- đoá hoa là biểu hiện rõ nhất về sự vô thường: hiện, hiển và biến:
Mùa mưa tới cành hoa trắng ngần
Ðã ra đời đùa vui phút giây
Sau một lần đến bên người
Khép lại tấm lòng nghìn năm nhớ ai...
            (Chuyện đoá quỳnh hương)
Từ đó -- đoá hoa ấy đã khép lại những cánh mong manh trước cả lúc trăng tàn nguyệt tận.

Từ đó --
Chìm dưới sương thu là một đoá thơm tho.
                                       (Chìm dưới cơn mưa)
Nhưng từ đó, để kết tinh nên một đoá mong manh, thơm tho ấy dâng cho đời, đã là sự cưu mang và hi hữu kể từ trăm năm trong cõi người ta...

(Nhạc để chấm dứt...)


Khúc kết
Những phương trời gió loạn nào đã đi qua,
Còn lại đoá hoa vô thường
Phất phơ giữa tuế nguyệt không thời.


Hà Vũ Trọng, Toronto, 6.2001