Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HỌC THẾ GIỚI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HỌC THẾ GIỚI. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2025

Diễn văn Nobel Văn học 2025 của László Krasznahorkai


Hugo Simberg, Thiên thần bị thương (1903)


Thưa quý vị!

Trong dịp nhận Giải Nobel này, ban đầu tôi muốn chia sẻ với quý vị những suy nghĩ của mình về chủ đề hi vọng, nhưng vì kho hi vọng của tôi hẳn nhiên cuối cùng cũng đã cạn kiệt, nên giờ tôi sẽ nói về các thiên sứ.


I.

Tôi đi loanh quanh và nghĩ về các thiên sứ, ngay cả bây giờ tôi vẫn đang đi, nên bạn đừng tin vào mắt mình – trông như thể tôi đang đứng và nói vào micro, nhưng không, thực ra tôi đang đi loanh quanh, hết góc này sang góc nọ, rồi quay trở lại nơi tôi bắt đầu, cứ thế, loanh quanh, và đúng vậy, tôi đang nghĩ về các thiên thần, về những thiên sứ mà tôi có thể tiết lộ với bạn rằng họ là một loại thiên sứ mới, những thiên sứ không có cánh, vì vậy chúng ta không cần phải thắc mắc về việc hai cánh mọc ra từ lưng họ, thật vậy, nếu đôi cánh to lớn này dang ra đến mức vượt ra ngoài chiếc áo choàng của họ, không biết những thợ may trên xưởng may thiên đường có bí quyết nào mặc áo vào cho họ trong khi cả hai cánh dang ra, tất nhiên là bên ngoài thân thể phi vật lí, nhưng đôi cánh thò ra ở đâu bên ngoài thân thể phi vật lí ấy, và chiếc áo choàng quấn quanh họ một cách mềm mại cũng che cả đôi cánh, hoặc giả, nếu họ không thò đôi cánh ra, thì làm thế nào chiếc áo thiên đường này che phủ được cả cơ thể lẫn đôi cánh của họ? Ôi, đáng thương cho Botticelli, Leonardo, Michelangelo, thậm chí Giotto và cả Fra Angelico nữa! Nhưng giờ thì không còn quan trọng nữa, câu hỏi này đã tan biến cùng với những thiên sứ xưa, những thiên sứ mà tôi đang nói đến là những thiên sứ mới, điều đó rất rõ ràng khi tôi bắt đầu đi quanh phòng mình, nơi mà giờ đây bạn chỉ có thể thấy tôi đang đứng trước micro và tuyên bố, với tư cách là người nhận Giải Nobel Văn học năm nay, rằng tôi muốn nói về hi vọng, nhưng tôi sẽ không nói về bây giờ, thay vào đó, tôi sẽ nói về các thiên thần, tôi sẽ bắt đầu từ điểm đó, khi trong tâm trí tôi chỉ những phác thảo mơ hồ lúc tôi bắt tay vào việc, với tư thế trầm ngâm trong không gian làm việc không quá lớn, tổng cộng chỉ 4m x 4m trong một căn phòng tháp mà diện tích cầu thang dẫn lên xuống tầng trệt cần được trừ đi, tất nhiên, đừng nghĩ đến một loại tháp ngà lãng mạn nào đó, căn phòng tháp này, được xây dựng từ những tấm ván vân sam Na Uy rẻ tiền nhất và nằm ở góc bên phải của một tòa nhà gỗ một tầng, nổi bật hơn mọi thứ khác vì mảnh đất của tôi nằm trên một con dốc, vì toàn bộ tòa nhà đứng trên đỉnh đồi, tức là toàn bộ lô đất nằm trên một sườn dốc và hơn nữa, nó dốc xuống một thung lũng, điều đó có nghĩa là tôi muốn xây thêm một phần rất cần thiết cho các phòng ở tầng trệt, và tôi muốn điều này khi những cuốn sách đang chiếm hết mọi không gian, rồi sau một khoảng thời gian nhất định, nhiệm vụ này trở nên không thể trì hoãn được, và vì độ dốc này, căn phòng được xây thêm đã vươn lên như một tòa tháp phía trên tầng trệt, đè nặng lên nó, à, ở đây tôi chỉ muốn nói về các thiên sứ, và không phải về hi vọng, và không phải về những thiên thần cũ, bởi vì những thiên thần cũ, những thiên thần có cánh – hãy nghĩ tới những thiên sứ nổi tiếng nhất trong số các bức tranh về Thiên sứ Truyền tin, được vẽ ra vô số trong thời Trung cổ và Phục hưng – họ mang đến một thông điệp, thông điệp về Đấng Sẽ Ra Đời sẽ được giáng sinh; đây là những thiên sứ thời xưa, những sứ giả trên trời liên tục mang theo thông điệp này hoặc thông điệp khác, và theo những phát hiện của thiên sứ học, phần lớn họ truyền đạt thông điệp này đến người nhận thông qua lời nói, hoặc đôi khi, như mô tả trong các bức tranh từ thế kỉ 9 và 10, họ đọc trực tiếp từ một dải ruy băng giấy gợn sóng những câu chữ, trong những cảnh mô tả này, chữ được coi là có ý nghĩa phi thường; ngay cả khi trong các nhiệm vụ khác, những thiên sứ này cũng truyền đạt – hay đúng hơn là họ đã truyền đạt – thông điệp của Đấng Tối Cao cho những người được chọn, lời được che giấu trong ánh sáng hoặc thì thầm vào tai, nghĩa là, bất kể những mô tả này, không thể phân biệt được thiên sứ với lại thông điệp của họ – chính xác hơn là họ không thể phân biệt được với thông điệp của họ – đến mức chúng ta thực sự  nên nói rằng thiên sứ thời xưa bản thân là thông điệp, bản thân họ là thông điệp luôn đến từ Đấng Không Thể Khẩn Cầu, Ngài đã gửi họ, Ngài đã gửi các thiên sứ đến với chúng ta, những người vật lộn trong bụi đất, những người lang thang, bị kết án phải chịu Hậu Quả Khôn Lường, ôi, đó là những thời điểm đẹp đẽ! Nói tóm lại, mỗi thiên sứ xưa là một thông điệp từ người này đến người khác, một thông điệp mang tính chất của một mệnh lệnh hay một tường trình, nhưng tôi không có ý định bàn về vấn đề này ở đây, khi đang đứng trước mặt các bạn trong khi đi loanh quanh trong căn phòng tháp của tôi, mà như các bạn biết đấy, được làm bằng gỗ vân sam rẻ tiền, hầu như không thể sưởi ấm, và đó là một tòa tháp chỉ vì độ dốc lớn của mảnh đất, vậy thì, tôi sẽ không nói về những thiên thần xưa, ngay cả khi những bức tranh sống trong chúng ta – nhờ những thiên tài thời Trung cổ và thời tiền Phục hưng, từ Giotto đến Giotto – ngay cả khi những thiên sứ xưa với những nét tuyệt vời, cao cả và gần gũi của họ cho đến ngày nay vẫn liên tục chạm đến tâm hồn chúng ta, thật không thể tin được, vì chắc chắn họ là những thiên sứ duy nhất, trong suốt nhiều thế kỉ, nhờ sự xuất hiện trong những dịp hiếm hoi, cho phép chúng ta suy ra sự tồn tại của Thiên đường, và với điều đó, chúng ta cũng có thể suy ra chiều hướng đã tạo ra bên trong chúng ta cấu trúc của vũ trụ như một chiều hướng, bởi vì nơi nào có chiều hướng thì nơi đó có khoảng cách, tức là có không gian, và nơi nào có chiều hướng thì cũng sẽ tồn tại khoảng cách giữa hai điểm, tức là có thời gian, và do đó, trong nhiều thế kỉ nay – ôi! và trong hàng thiên niên kỉ! – thế giới được tin là đã được tạo ra, nơi những cuộc gặp gỡ với họ, với những thiên thần xưa kia, đã cho chúng ta một cách để cảm nhận một cách dứt khoát về thế giới bên trên và bên dưới như một điều gì đó chân thực và có thật, và vì vậy, nếu tôi muốn nói chuyện với bạn về những thiên sứ xưa, tôi sẽ đi vòng quanh từ một góc, rồi quay trở lại góc đó, nhưng không, những thiên sứ xưa không còn nữa, chỉ có những thiên thần mới, và đối với bản thân tôi, tôi không đi vòng quanh từ một góc rồi trở lại góc đó và nghĩ về họ khi tôi đứng đây trước sự chú ý của bạn, bởi vì, như tôi có lẽ đã đề cập, những thiên sứ mới của chúng ta là những thiên thần đã mất đi đôi cánh, họ không còn những chiếc áo choàng mềm mại quấn quanh người nữa, họ đi lại giữa chúng ta trong những bộ quần áo giản dị, chúng ta không biết có bao nhiêu thiên sứ, nhưng theo một gợi ý mơ hồ nào đó, số lượng của họ vẫn không thay đổi, và, giống như những thiên sứ xưa kia, những thiên sứ mới này cũng xuất hiện một cách kì lạ đây đó, họ xuất hiện trước mặt chúng ta trong cùng những tình huống đời sống giống như những thiên thần xưa, và trên thực tế, thật dễ nhận ra họ nếu họ muốn, nếu họ không che giấu những gì họ mang trong bản thân, thật dễ dàng vì như thể họ đang bước vào sự tồn tại của chúng ta với một nhịp độ khác, một nhịp điệu khác, một giai điệu khác so với nhịp độ chúng ta đang bước tới, chúng ta, những người đang vật lộn và lang thang chốn hồng trần ở đây, hơn nữa, chúng ta thậm chí còn không thể chắc chắn rằng những thiên thần mới này đến từ một nơi nào đó trên cao kia, bởi vì chắc gần như không còn gì ở trên đó nữa, như thể chính nó cũng vậy – cùng với những thiên sứ xưa – đã nhường chỗ cho một NƠI NÀO ĐÓ vĩnh hằng, nơi mà giờ đây chỉ còn những công trình điên rồ của Elon Musk của cái thế giới này thiết lập không gian và thời gian, và từ đó, có thể thấy rằng trong bạn vẫn chỉ nhìn thấy và nghe thấy một ông già trước mặt, nói bằng thứ ngôn ngữ ít ai biết đến của mình nhân dịp nhận Giải Nobel Văn học, một ông già tất nhiên đang đi đi lại lại không thay đổi và trong chính căn phòng tháp thiếu sưởi ấm này, giữa những vách gỗ vân sam Na Uy, bước đi loanh quanh, chính là tôi, người lúc này đang bước nhanh hơn như thể muốn bày tỏ rằng những suy nghĩ của mình về những thiên thần mới này cần một kiểu bước chân khác và một loại tốc độ khác so với người đang nghĩ về họ, và thực sự, lúc này khi tôi bước nhanh hơn, tôi chợt nhận ra rằng những thiên thần mới này không chỉ không có cánh mà họ còn không có thông điệp gì, không có gì cả, họ chỉ ở đây giữa chúng ta trong những bộ quần áo giản dị thường ngày, không thể nhận ra nếu họ muốn, nhưng nếu họ muốn được nhận ra, thì họ sẽ chọn một trong số chúng ta, họ bước đến, và rồi đột nhiên, chỉ trong một khoảnh khắc, cườm thủy tinh thể bong khỏi mắt chúng ta, mảng bám động mạch rơi khỏi tim chúng ta, nghĩa là một cuộc gặp gỡ diễn ra, chúng ta bị sốc, ôi trời ơi, đó là một thiên sứ họ đang đối diện trước chúng ta, chỉ có điều... họ không truyền đạt bất cứ điều gì, không có lời nào gợn sóng xung quanh họ, không có ánh sáng nào để họ có thể thì thầm vào tai chúng ta, tức là họ không nói một lời nào, như thể họ đã câm lặng, họ chỉ đứng đó và nhìn chúng ta, họ đang tìm kiếm ánh mắt của chúng ta, và trong cuộc tìm kiếm này có một lời cầu xin chúng ta hãy nhìn vào mắt họ, để chính chúng ta có thể truyền tải một thông điệp cho họ, chỉ có điều thật không may, chúng ta không có thông điệp nào để truyền tải, bởi vì chúng ta chỉ có thể nói để đáp lại ánh mắt khẩn cầu ấy những gì từng là lời đáp, khi vẫn còn một câu hỏi, nhưng giờ đây không còn câu hỏi hay câu trả lời nào nữa, vậy thì, đây là cuộc gặp gỡ kiểu gì, đây là cảnh tượng thiên đường và trần thế kiểu gì, họ chỉ đứng đó trước mặt chúng ta, nhìn chúng ta, và chúng ta cũng chỉ đứng đó nhìn họ, và nếu họ hiểu được điều gì từ toàn bộ sự việc này, thì chắc chắn chúng ta không hiểu chuyện gì đang diễn ra, người câm nói với người điếc, người điếc nói với người câm, làm sao có thể có một cuộc trò chuyện, làm sao có sự hiểu biết nào, chưa kể đến sự hiện diện thiêng liêng, nhưng rồi đột nhiên có điều gì gì đó trở nên rõ ràng với mỗi tâm hồn cô đơn, mệt mỏi, đau buồn và nhạy cảm, như đang xảy ra ngay lúc này – nếu tôi có thể kể mình trong số đó – tôi, người dường như đang đứng đây trước mặt các bạn và nói vào micro, nhưng thực ra tôi đang ở trong phòng tháp, như các bạn biết đấy, giữa những tấm ván vân sam Na Uy rẻ tiền và cách nhiệt tồi tệ, nhận ra rằng những thiên thần mới này trong sự câm lặng vô hạn của họ có lẽ không còn là thiên thần nữa, mà là những vật hiến tế, vật hiến tế theo nghĩa nguyên thủy, thiêng liêng của Lời, tôi nhanh chóng rút ống nghe ra, vì tôi luôn mang nó theo mình, và bây giờ tôi cũng có nó, khi tôi nói từ căn phòng tháp đó, đi đi lại lại, và rất nhẹ nhàng tôi đặt màng nghe và chuông lên ngực tất cả các bạn, và ngay lập tức tôi nghe thấy âm thanh của số phận, tôi nghe thấy số phận của các bạn, và với điều này tôi bước vào một số phận như vậy, tôi cảm thấy một nhịp đập của số phận như vậy ngay lập tức biến đổi khoảnh khắc này, nhưng chủ yếu là khoảnh khắc tiếp theo sẽ diễn ra trước mắt tôi, bởi vì không, khoảnh khắc dường như có thể xảy ra tiếp theo không phải là khoảnh khắc tiếp theo, một khoảnh khắc hoàn toàn khác xảy ra, khoảnh khắc sốc và sụp đổ ập xuống tôi, bởi vì ống nghe của tôi phát hiện ra câu chuyện kinh hoàng về những thiên thần mới đang đứng trước mặt tôi, câu chuyện rằng họ là những sinh vật hiến tế, những sinh vật hiến tế: và không phải cho chúng ta, mà bởi vì chúng ta, cho mỗi người chúng ta, bởi vì mỗi người chúng ta, những thiên thần không có cánh và những thiên thần không có thông điệp, và trong khi đó biết rằng có chiến tranh, chiến tranh và chỉ có chiến tranh, chiến tranh trong tự nhiên, chiến tranh trong xã hội, và cuộc chiến tranh này đang được tiến hành không chỉ bằng vũ khí, tra tấn, và hủy diệt: tất nhiên, đây là một đầu của cán cân, nhưng cuộc chiến tranh này cũng diễn ra ở đầu đối diện của cán cân, bởi vì chỉ cần một lời nói tệ hại là đủ, chỉ cần một lời nói tệ hại ném vào một trong những thiên thần mới này, chỉ cần một hành động bất công, thiếu suy nghĩ, thiếu phẩm giá là đủ, chỉ cần một vết thương về thể xác và tâm hồn, bởi vì khi họ sinh ra, họ không dành cho điều này, họ không có khả năng tự vệ trước điều này, không có khả năng tự vệ trước sự nghiền nát, không có khả năng tự vệ trước sự hèn hạ, trước sự tàn nhẫn cay độc đối với tính vô hại và trong trắng của họ, chỉ cần một hành động là đủ, nhưng ngay cả một lời tồi tệ cũng đủ để họ bị tổn thương mãi mãi – điều mà tôi không thể chữa lành ngay cả bằng một vạn lời, bởi vì nó vượt quá mọi phương thuốc chữa trị.

 

Paul Klee, Angelus Novus (Thiên sứ Mới), 1920

II.

thôi, nói về thiên sứ đủ rồi!

Thay vào đó, hãy nói về phẩm giá con người. Con người – một sinh vật kì diệu – ngươi là ai?

Ngươi đã phát minh ra bánh xe, ngươi đã phát minh ra lửa, ngươi khám phá ra rằng hợp tác là phương tiện duy nhất để sinh tồn, ngươi đã phát minh ra việc ăn xác chết để trở thành chủ nhân của thế giới dưới quyền cai trị của mình, ngươi đã có được một trí thông minh đáng kinh ngạc, và bộ não của ngươi rất lớn, rất nhiều nếp nhăn và rất phức tạp đến nỗi thực sự nhờ bộ não này, ngươi đã có được quyền lực mặc dù còn hạn chế đối với thế giới này, thế giới cũng do chính ngươi đặt tên, dẫn ngươi đến những nhận thức mà sau này hoá ra là không đúng, nhưng chúng đã giúp ngươi tiến bộ trong quá trình tiến hoá của mình, sự tiến bộ của ngươi, tiến triển theo những bước nhảy vọt, đã củng cố giống loài của ngươi trên Trái Đất và khiến nó gia tăng, ngươi đã tập hợp thành từng bầy đàn, ngươi xây dựng xã hội, ngươi tạo ra nền văn minh, ngươi cũng có khả năng làm nên điều kì diệu là không bị tuyệt chủng, mặc dù khả năng đó hoàn toàn có thể, nhưng một lần nữa ngươi tự đứng trên đôi chân của mình, sau đó, với tư cách là homo habilisngươi đã chế tạo công cụ bằng đá và ngươi cũng biết cách sử dụng chúng, sau đó với tư cách là homo erectusngươi phát hiện ra lửa, và sau đó nhờ một chi tiết nhỏ giúp ngươi khác biệt với loài tinh tinh, đó là thanh quản và vòm miệng mềm của ngươi không chạm vào nhau – ngươi đã có thể tạo ra ngôn ngữ, song song với sự điều chỉnh của trung tâm ngôn ngữ trong não; ngươi đã ngồi xuống với Chúa tể các tầng trời, nếu chúng ta có thể tin vào những chương im lặng của Cựu Ước, ngươi đã ngồi xuống với Ngài, và những gì Ngài đã chỉ cho ngươi từ giữa muôn vật được tạo dựng, ngươi đặt tên cho chúng, và sau đó ngươi đã phát minh ra chữ viết, nhưng đến lúc này ngươi đã có khả năng diễn đạt các chuỗi suy nghĩ triết học, trước tiên ngươi kết nối các sự kiện, sau đó ngươi tách chúng ra khỏi niềm tin tôn giáo của mình liên quan đến kinh nghiệm của riêng mình, ngươi đã phát minh ra thời gian, ngươi đã chế tạo ra phương tiện và tàu thuyền, ngươi đã du hành đến Vùng Đất Chưa Biết trên trái đất, cướp bóc mọi thứ có thể cướp bóc được, ngươi  nhận ra ý nghĩa của việc tập trung sức mạnh và quyền lực của mình, ngươi đã lập bản đồ các thiên thể được cho là không thể tiếp cận, và đến giờ ngươi không còn coi Mặt trời là một vị thần và các vì sao điều khiển số phận nữa, ngươi đã phát minh ra, hay đúng hơn là ngươi đã phân loại giới tính, vai trò của đàn ông và đàn bà, và rất muộn, mặc dù không bao giờ là quá muộn, ngươi đã khám phá ra tình yêu dành cho họ, ngươi đã phát minh ra cảm xúc, sự đồng cảm, các thứ bậc khác nhau của việc tiếp thu kiến ​​thức, và cuối cùng ngươi đã bay vào không gian, bỏ lại đàn chim, rồi ngươi bay lên Mặt trăng, và đã để lại những bước chân đầu tiên của mình ở đó, ngươi đã phát minh ra những vũ khí có thể thổi bay toàn bộ Trái đất nhiều lần, và sau đó ngươi đã phát minh ra khoa học ở mức độ linh hoạt đến mức ngày mai được ưu tiên hơn và làm xấu hổ những gì chỉ có thể tưởng tượng ngày hôm nay, và ngươi đã tạo ra nghệ thuật từ những bức vẽ trong hang động cho đến Bữa tiệc li của Leonardo, từ sự mê hoặc kì diệu của nhịp điệu cho đến Johann Sebastian Bach, cuối cùng, theo tiến trình lịch sử, ngươi đột nhiên bắt đầu không còn tin vào bất cứ điều gì nữa, và với sự trợ của những thiết bị do chính ngươi phát minh ra, đang phá hủy trí tưởng tượng, giờ đây ngươi chỉ còn lại trí nhớ ngắn hạn, và vì vậy ngươi đã từ bỏ quyền sở hữu cao quý và phổ biến về tri ​​thức, cái đẹp và điều thiện đạo đức, và giờ ngươi đã sẵn sàng bước ra vùng đất bằng phẳng, nơi đôi chân ngươi sẽ lún sâu xuống, đừng động đậy, ngươi sắp lên sao Hỏa ư? thay vào đó: đừng động đậy, bởi vì bùn này sẽ nuốt chửng ngươi, đầm lầy sẽ kéo ngươi xuống, nhưng nó thật đẹp, con đường tiến hóa của ngươi thật ngoạn mục, chỉ tiếc là: không thể đảo ngược.

 

III.

Thôi, nói về phẩm giá con người thế là đủ. Hãy nói về sự nổi loạn.

Tôi đã cố gắng đề cập đến vấn đề này trong cuốn sách The World Goes On (Thế giới đang chuyển động) của mình, nhưng vì tôi không hài lòng với những gì mình viết, tôi sẽ thử lại. Vào đầu những năm 1990, trong một buổi chiều ẩm ướt, oi bức, tôi đang ở Berlin, đang đợi tàu ở một tầng thấp của một ga tàu điện ngầm. Các sân ga, giống như mọi nơi khác trong mạng lưới tàu điện ngầm, được thiết kế sao cho ngay phía trước theo hướng di chuyển, vài mét trước khi tàu tiếp tục vào đường hầm, có gắn một tấm gương lớn được trang bị đèn tín hiệu, một phần để hỗ trợ người soát vé nhìn thấy toàn bộ chiều dài của tàu và một phần để chỉ ra chính xác vị trí, chính xác đến từng centimet, phần đầu tàu phải dừng lại tạm thời trong khi hành khách xuống và lên tàu sau khi đã đến nơi. Gương dĩ nhiên là dành cho người lái tàu, trong khi đèn đỏ chỉ ra điểm vuông góc với đường ray nơi người lái tàu phải dừng lại để hành khách lên và xuống tàu an toàn, và khi đèn chuyển sang màu xanh, tàu U-Bahn có thể tiếp tục đi trong đường hầm – trong trường hợp của tôi – hướng tới Ruhleben. Ngoài một biển báo cảnh báo về sự cần thiết phải tránh tai nạn và tuân thủ các quy tắc, một vạch vàng dày rất dễ thấy đã được sơn trên mặt đất trước cột đèn tín hiệu và lối vào đường hầm, vạch vàng này có tác dụng chỉ ra rằng ngay cả khi sân ga tiếp tục thêm vài mét nữa, như đã xảy ra, hành khách không được bước qua vạch vàng này trong bất kì trường hợp nào để ở đây  – như ở mọi nhà ga – có một khu vực bị nghiêm cấm nằm giữa vạch vàng này và lối vào đường hầm, nơi một người, cụ thể là hành khách, không được phép, trong bất kì trường hợp nào, đặt chân vào. Tôi đợi chuyến tàu đến từ hướng Kreuzberg, và đột nhiên tôi nhận thấy có người ở trong khu vực cấm này. Đó là một gã vô gia cư, lưng còng xuống vì đau đớn, mặt hơi nghiêng về phía chúng tôi, như thể đang trông chờ sự thông cảm của ai đó, đang cố gắng tiểu lên lối đi phía trên đường ray. Rõ ràng việc tiểu tiện này gây ra cho gã rất nhiều đau khổ, vì gã chỉ có thể tự giải thoát ra từng giọt một. Đến lúc nhận ra chuyện gì đang xảy ra ở đây, những người xung quanh tôi cũng nhận ra một sự cố bất thường nào đó đang làm xáo trộn buổi chiều hôm đó. Đột nhiên, và gần như rõ ràng, ý kiến ​​chung được nhất trí rằng đây là một vụ công xúc tu sỉ, và nó phải được chấm dứt ngay lập tức, gã vô gia cư này phải bị tống đi, và hiệu lực của vạch vàng phải được khôi phục. Sẽ không có vấn đề gì nếu gã vô gia cư có thể làm xong việc, và lê mình vào giữa chúng tôi, rồi leo lên các bậc thang lên tầng trên, nhưng gã vô gia cư này đã không hoàn thành, nhưng có lẽ là vì hắn không thể, và điều khiến sự việc này trở nên rắc rối hơn nữa là trên sân ga đối diện đột nhiên xuất hiện một cảnh sát, người này hét lớn từ bên kia, gần như đối diện với gã lang thang, yêu cầu cho kẻ vi phạm lập tức phải dừng hanh vi đang làm. Những ga tàu điện ngầm này một lần nữa, vì lí do an ninh – được xây dựng sao cho các đoàn tàu chạy ngược chiều nhau, đến một điểm dừng nhất định rồi tiếp tục đi tiếp, được tách biệt với nhau, cụ thể là hai đường ray tàu được đặt trong một rãnh rộng khoảng mười mét và sâu gần một mét, do đó, nếu một hành khách đổi ý hành trình của mình, muốn đi từ sân ga phục vụ các đoàn tàu đến theo một hướng đến sân ga khác, nơi các đoàn tàu đi theo hướng khác, thì hành khách này chỉ có thể bằng cách đi bộ đến cầu thang ở cuối sân ga, leo lên cầu thang tầng trên, rồi đi vòng qua hành lang phía trên đường ray sang phía bên kia, sau đó đi xuống cầu thang, và chỉ bằng cách này, người ấy mới có thể đến sân ga của đoàn tàu đang chạy theo hướng mà người ấy đột nhiên mong muốn, nhưng tất nhiên người ấy không bao giờ có thể nhảy xuống rãnh có hai đường ray rồi đi qua 10 mét đó bằng cách vượt qua những đường ray, không, điều này, nếu có thể phân biệt các mức độ cấm, thậm chí còn bị cấm nghiêm ngặt hơn, cũng như tất nhiên là đe dọa đến tính mạng, và tôi bày tỏ sự thật hiển nhiên này chi tiết như vậy, bởi vì viên cảnh sát đã nói ở trên tỏ ra tức giận – phần nào giữ được phẩm giá của mình, nhưng dùng thẩm quyền và sự phán đoán tốt của mình – chắc chắn sẽ phải đi theo cùng một tuyến đường, cụ thể là ông ta sẽ phải đi về phía cầu thang dẫn đến lối đi phía trên ở sân ga bên kia, sau đó, leo lên những cầu thang này, và sẽ phải chạy sang phía bên này và đi xuống cầu thang, cuối cùng đến nơi chúng tôi đang đứng.

Đây là tiền lệ, buộc viên cảnh sát cũng phải làm theo, bởi vì ngay từ lúc nhận ra gã vô gia cư, ông đã hét lên vài lần bằng giọng khàn khàn, nhưng vô ích vì gã vô gia cư không hề để ý đến ông, đầu hắn vẫn ngoảnh về phía chúng tôi, nhìn chúng tôi với vẻ mặt phản ánh cơn đau không hề thay đổi, trong khi những giọt nước tiểu vẫn tiếp tục rơi xuống đường ray: đây thực sự là  một sự xúc phạm vô song đối với các quy định, trật tự, luật pháp và lẽ thường, cụ thể là gã lang thang không để ý đến viên cảnh sát, hoặc theo cách lí giải có thể có của viên cảnh sát: gã giả vờ điếc, khiến viên cảnh sát này đặc biệt bị tổn thương.

Dĩ nhiên, gã vô gia cư cũng đã tính đến cả viên cảnh sát, vì lợi thế đau đớn của đối phương, viên cảnh sát sẽ nhanh hơn gã, và gã không thể nào – dù là ý muốn của gã hay ý muốn của tự nhiên – chấm dứt kịp thời hành động bị cấm đoán này. Do đó, khi gã nhận thấy viên cảnh sát đang vội vã, thực ra là sẽ chạy dọc theo sân ga bên kia để lên tầng trên cùng xa xa ở đầu cầu thang, băng qua lan can, rồi chạy xuống sang phía chúng tôi để véo tai gã, trong khi gã thang thang rên rỉ vô cùng khó khăn, bỏ dở việc đang làm và bắt đầu chạy về phía chúng tôi để đến cầu thang gần nhất hướng lên trên càng nhanh càng tốt, rồi sẽ biến mất ở đâu đó.

Đó là một cuộc chạy đua kinh hoàng. Mọi người trên sân ga của chúng tôi đều im bặt khi gã vô gia cư bắt đầu chạy, bởi vì rõ ràng là cuộc chạy trốn này sẽ chẳng dẫn đến đâu, bởi vì gã vô gia cư già nua bắt đầu run rẩy toàn thân; đôi chân và bộ não đang điều khiển đôi chân của gã dường như không còn hoạt động bình thường nữa, nên trong khi thấy sát viên cảnh sát bên kia đang tiến tới lối đi phía trên – từng mét một! thì gã vô gia cư, trên sân ga của chúng tôi, chỉ có thể tiến lên khó nhọc từng cm một trong sự căng thẳng khủng khiếp với cánh tay vung vẩy, trong khi viên cảnh sát cũng vậy, ông cũng đang nhìn vào mười mét ngăn cách họ. Mười mét này là một cực hình đối với viên cảnh sát, một sự cản trở trừng phạt không đáng có, trong khi ở phía chúng tôi, cũng mười mét này đồng nghĩa với sự trì hoãn, một sự trì hoãn tự nó mang theo sự khích l vô nghĩa rằng gã vô gia cư vẫn có thể trốn tránh được sự buộc tội hiển nhiên. Nhìn vấn đề từ góc độ của viên cảnh sát, chính ông ta đại diện cho luật pháp, Cái Thiện được tất cả mọi người chấp thuận và do đó là bắt buộc đối với kẻ vi phạm, kẻ chối bỏ lí trí này bị tất cả phán xét – nói cách khác, là Cái Ác. Vâng, viên cảnh sát đại diện cho Cái Thiện bắt buộc, nhưng trong khoảnh khắc này, ông ta bất lực, và trong tôi, khi đã chứng kiến ​​cuộc chạy đua vô nhân đạo này giữa mét đấu với xentimét, thì sự chú ý của tôi đột nhiên bị trì hoãn, và khoảnh khắc đó dừng lại. Khoảnh khắc đó dừng lại đúng lúc họ nhận ra nhau: viên cảnh sát tốt lành nhận ra rằng gã vô gia cư xấu xa đang tiểu tiện trong vùng cấm, còn gã vô gia cư thấy rằng, thật không may cho gã vì viên cảnh sát tốt lành đã nhìn thấy những gì gã làm. Chỉ có mười mét giữa họ, viên cảnh sát chộp lấy dùi cui, và trước khi bắt đầu chạy, ông dừng lại, ôi, có một sức mạnh vô hạn nhưng bị đình trệ trong chuyển động này, các cơ bắp của ông căng cứng, như sẵn sàng nhảy, bởi vì trong khoảnh khắc đó lóe lên trong ông: điều gì sẽ xảy ra nếu ông chỉ cần nhảy qua mười mét đó, trong khi ở phía bên kia, được mười mét đó bảo vệ, gã vô gia cư đang phải mò mẫm và run rẩy trong sự bất lực gấp đôi của mình. Ở đây sự chú ý của tôi dừng lại, và nó vẫn ở đó cho đến ngày hôm nay khi tôi nghĩ về bức tranh đó, khoảnh khắc khi viên cảnh sát giận dữ, vung dùi cui, bắt đầu chạy đến chỗ vô gia cư, tức là khoảnh khắc khi Cái Thiện bắt buộc lên đường chạy về phía Cái Ác, một lần nữa lại xuất hiện dưới lốt một gã vô gia cư, hơn nữa, không chỉ đơn giản là về phía Cái Ác, mà, vì ý thức và ý định của hành động này, về phía chính Cái Ác, và theo cách này, trong bức tranh đông cứng này, tôi liên tục nhìn thấy, và tôi vẫn nhìn thấy ngày hôm nay, người đang vội vã trên sân ga xa, những bước chân nhanh nhẹn đưa ông tiến về phía trước từng mét một, và, về phía chúng tôi, tôi thấy kẻ có tội, rên rỉ, run rẩy, bất lực, gần như tê liệt vì đau đớn, vì ai biết còn bao nhiêu giọt nước tiểu trong cơ thể đó, tiến lên từng cm một – vâng, tôi thấy rằng trong cuộc thi này, Cái Thiện không bao giờ bắt kịp Cái Ác chỉ trong mười mét, bởi vì mười mét đó không bao giờ có thể vượt qua, và ngay cả viên cảnh sát này có thể tóm được gã vô gia cư này cùng lúc chiếc tàu điện đang lao vào ga, trong mắt tôi, mười mét đó vẫn là vĩnh cửu và không thể khuất phục, bởi vì sự chú ý của tôi chỉ nhận thấy rằng Cái Thiện sẽ không bao giờ bắt kịp Cái Ác đang vùng vẫy, bởi vì giữa Thiện và Ác không hề có hi vọng, hoàn toàn không có.

Chuyến tàu đưa tôi về phía Ruhleben, và tôi không thể ngăn được sự run rẩy và quằn quại đó ra khỏi đầu mình, và đột nhiên, như một tia chớp, câu hỏi lóe lên trong tôi: khi nào lại này và tất cả những kẻ bị ruồng bỏ khác sẽ nổi loạn – và cuộc nổi loạn này sẽ diễn ra như thế nào. Có lẽ sẽ đẫm máu, có lẽ sẽ tàn bạo, có lẽ sẽ khủng khiếp, như khi một con người này tàn sát một con người kia – rồi tôi gạt bỏ suy nghĩ đó, bởi vì tôi tự nhủ, ôi không, cuộc nổi loạn mà tôi đang nghĩ đến sẽ khác, bởi vì cuộc nổi loạn đó sẽ liên quan đến toàn thể.

Thưa quý vị, mọi cuộc nổi loạn đều liên quan đến toàn thể, và giờ đây, khi tôi đứng trước mặt quý vị, và những bước chân của tôi  bắt đầu chậm lại trong căn phòng trên tháp ở nhà, chuyến đi Berlin một lần trên tàu điện ngầm về phía Ruhleben lại lóe lên trong tôi. Từng ga tàu sáng đèn nối tiếp nhau, tôi không xuống ga nào cả, kể từ đó tôi cứ đi tàu điện xuyên qua đường hầm, vì chẳng có điểm dừng nào để xuống, tôi chỉ đơn giản ngắm nhìn những ga tàu lướt qua, và tôi cảm thấy mình đã suy nghĩ về mọi thứ, đã nói hết những gì tôi nghĩ về sự nổi loạn, về phẩm giá con người, về các thiên sứ, và vâng, có lẽ là tất cả mọi thứ – thậm chí cả về hi vọng.

 ___

Hà Vũ Trọng dịch theo bản dịch tiếng Anh của Ottilie Mulzet

Nguồn từ trang của Hội đồng Nobel,  Diễn văn Nobel Văn học 2025 công bố ngày 8.12.2025 








Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2025

Jorge Luis Borges BÔNG HỒNG CỦA PARACELSUS

 Hà Vũ Trọng dịch

"Paracelsus khoa trương rằng ông có thể phục sinh bông hồng hoặc tử la lan nguyên thuỷ từ tro tàn sau khi đã thiêu rụi..."

                                                            De Quincey, Tác phẩm, tập XII: trang 345[i]




Trong phòng thí nghiệm gồm hai gian dưới tầng hầm, Paracelsus cầu nguyện với Thượng đế của ông, vị Thượng đế không xác định - bất kì Thượng đế nào – xin Ngài ban cho mình một đồ đệ.

Màn đêm đã buông. Ngọn lửa yếu ớt trong lò sưởi chiếu ra những cái bóng rập rờn trong gian phòng. Việc đứng dậy để thắp sáng cái đèn sắt thật phiền phức. Paracelsus mệt mỏi sau một ngày dài, ông trở nên lơ đãng, và cũng quên đi lời cầu nguyện của mình. Đêm tối đã xoá nhoà những chiếc bình chưng cất đầy bụi và lò luyện, lúc này bỗng có tiếng gõ cửa. Ông mơ màng đứng dậy, bước lên những bậc thang xoắn ốc ngắn, và mở một bên cánh cửa đôi. Một người lạ bước vào. Anh ta cũng có vẻ rất mệt mỏi. Paracelsus chỉ tay về phía chiếc ghế; người kia ngồi xuống chờ đợi. Một lúc lâu, cả hai đều không nói gì.

Đại sư là người đầu tiên lên tiếng.

 “Ta nhớ những khuôn mặt từ phương Tây, cũng nhớ những khuôn mặt từ phương Đông,” ông nói, không thiếu phần trang trọng, “nhưng gương mặt của cậu thì ta không nhớ. Cậu là ai? Cậu muốn gì ở ta?”

“Tên của con không quan trọng”, người kia đáp. “Con đã đi bộ ba ngày ba đêm để đến nhà thầy. Con muốn trở thành môn đệ của thầy. Con mang đến cho thầy tất cả tài sản của mình.”

Anh ta lấy ra một cái túi và đổ những thứ bên trong lên bàn. Có rất nhiều đồng tiền, và đều bằng vàng. Anh ta dùng tay phải để đổ túi. Paracelsus quay lưng để thắp đèn; khi quay người lại, ông thấy tay trái của người ấy cầm một bông hồng. Bông hồng khiến ông cảm thấy không yên. Ông tựa lưng vào ghế, khép các đầu ngón tay lại, và nói:

“Cậu nghĩ ta có khả năng điểm thạch thành kim,[ii] thế nhưng cậu lại mang vàng đến cho ta. Nhưng ta không tìm kiếm vàng, và nếu vàng là thứ cậu quan tâm, cậu sẽ không bao giờ trở thành đồ đệ của ta được.” 

“Vàng không phải là thứ con quan tâm”, người kia đáp. “Những đồng tiền này chỉ đơn giản tượng trưng cho thành ý của con được tham gia vào công việc của thầy. Con muốn thầy dạy con Nghệ thuật. Con nguyện đi bên cạnh thầy trên con đường dẫn đến Hòn đá.”[iii]

"Con đường chính là Hòn đá. Điểm khởi đầu cũng chính là Hòn đá. Nếu cậu không hiểu những lời này, thì cậu vẫn chưa bắt đầu hiểu. Mỗi bước đi của cậu là mục tiêu mà cậu tìm kiếm.” Paracelsus nói những lời này một cách từ tốn. 

Người kia nhìn ông với vẻ hoài nghi, giọng điệu cũng thay đổi:

“Nhưng, liệu có mục tiêu nào không?”

Paracelsus cười.

“Những kẻ phỉ báng ta, số lượng nhiều không thua kém số ngu ngốc, họ nói rằng không có, và họ gọi ta là kẻ lừa đảo. Ta tin rằng họ nhầm, mặc dù có thể ta đang tự lừa dối mình. Nhưng ta biết rằng có một Con Đường.”

Im lặng một lúc, rồi người kia lên tiếng.

“Con sẵn sàng đi trên Con Đường đó cùng thầy, ngay cả khi chúng ta phải đi mất nhiều năm. Hãy cho con vượt qua sa mạc. Hãy cho con nhìn thấy vùng đất hứa, dẫu chỉ từ xa, dẫu các vì sao ngăn cản con đặt chân lên mảnh đất đó. Điều mà con yêu cầu là được thấy một bằng chứng trước khi chúng ta lên đường.” 

“Bao giờ?” Paracelsus hỏi với vẻ bực bội. 

“Ngay bây giờ”, người đồ đệ nói với vẻ quyết đoán. 

Họ bắt đầu trò chuyện bằng tiếng Latin, lúc này thì bằng tiếng Đức. 

Chàng trai trẻ giơ bông hồng lên không. Anh nói:

“Thầy nổi tiếng vì có thể thiêu rụi một bông hồng thành tro rồi lại làm cho nó tái sinh, nhờ vào phép thuật từ tài nghệ của thầy. Hãy cho con chứng kiến phép màu ấy. Con cầu xin thầy điều này, và đổi lại, con sẽ hiến dâng cả cuộc đời mình cho thầy.”

“Cậu quá cả tin,” bậc đại sư nói. “Ta không cần sự cả tin; ta cần niềm tin.”

Người kia kiên quyết.

“Chính vì không cả tin nên con mới muốn thấy tận mắt sự huỷ diệt và phục sinh của bông hồng.”

Lúc này, đại sư cầm lấy bông hồng vừa vuốt ve nó vừa nói.

“Cậu thật cả tin,” ông lặp lại. “Cậu nói rằng ta có thể huỷ diệt nó?” 

“Bất kì ai cũng có thể huỷ diệt nó,” người đồ đệ nói. 

“Cậu lầm rồi,” đại sư đáp. “Cậu có thực sự tin rằng một thứ gì đó có thể biến thành hư vô? Cậu có tin rằng Adam đầu tiên trong Địa đàng có thể huỷ diệt một bông hoa hay một ngọn cỏ?”

“Chúng ta không ở trong Địa đàng,” chàng trai ngoan cố đáp. “Ở đây, trong cái thế gian này, mọi thứ đều phải tử vong." 

Paracelsus đứng dậy. 

“Vậy chúng ta đang ở đâu, nếu không phải là Địa đàng?” ông hỏi. “Cậu có tin rằng Thượng đế có thể tạo ra một nơi không phải Địa đàng? Cậu có tin rằng sự sa ngã là điều gì đó khác ngoài việc không nhận ra rằng chúng ta đang ở trong Địa đàng?” 

“Một bông hồng có thể bị thiêu cháy," người đồ đệ nói một cách khiêu khích. 

“Lửa vẫn còn ở kia,” Paracelsus nói, chỉ về phía lò sưởi. “Nếu cậu ném bông hồng này vào than hồng, cậu cho rằng nó sẽ bị thiêu rụi, và tro tàn là thật. Ta nói với cậu rằng bông hồng là vĩnh cửu, chỉ có vẻ bề ngoài của nó thay đổi. Chỉ cần ta nói một lời, cậu sẽ lại nhìn thấy nó.” 

“'Một lời?” người đồ đệ ngạc nhiên hỏi. “Lò luyện thì lạnh tanh, các bình chưng cất cũng phủ bụi. Làm thế nào thầy làm cho nó xuất hiện trở lại?”

Paracelsus nhìn anh ta với ánh mắt buồn bã.

“Lò luyện thì lạnh,” ông gật đầu nói, “còn các bình chưng cất cũng phủ bụi. Trong chặng đường dài này, ta sẽ dùng những công cụ khác.”

“Con không dám hỏi đó là công cụ gì,” người kia nói một cách khiêm tốn, hoặc tinh khôn. 

“Ta đang nói về loại công cụ mà Thượng đế dùng để tạo ra trời đất và cái thiên đường vô hình mà chúng ta đang tồn tại trong đó, nhưng tội lỗi nguyên tổ đã che giấu nó khỏi mắt chúng ta. Ta đang nói về Lời mà khoa học Kabbalah đã dạy chúng ta."

“Con hỏi xin thầy,” người đồ đệ lạnh lùng nói, “nếu thầy có thể tử tế chỉ cho con sự biến mất và xuất hiện của bông hồng được không. Con không quan tâm chút nào đến việc thầy làm việc với bình chưng cất hay với Lời.”

Paracelsus tư lự một lúc, rồi ông nói:

“Nếu ta làm điều cậu yêu cầu, cậu sẽ nói rằng đó chẳng qua là ảo ảnh do ma thuật đối với con mắt. Phép màu sẽ không mang lại cho cậu niềm tin mà cậu đang tìm kiếm. Vậy hãy để bông hồng sang một bên.”

Chàng trai trẻ nhìn ông với sự nghi ngờ chưa tan. Sau đó Paracelsus cất cao giọng.

“Vả lại, cậu là ai mà dám vào nhà của một vị thầy và còn yêu cầu vị thầy làm một phép màu? Cậu đã làm gì để xứng đáng nhận món quà như vậy?”

Người kia run rẩy trả lời:

“Con biết con không làm được gì cả. Chính vì con sẽ học dưới bóng của thầy trong nhiều năm nên con mới hỏi xin thầy - hãy cho con thấy tro tàn rồi đến hoa hồng. Con sẽ không yêu cầu gì thêm. Con sẽ tin vào những gì mình thấy.”

Anh ta đột ngột nắm lấy bông hồng đỏ tươi màu nhục thể mà Paracelsus đã đặt lên bàn, rồi ném nó vào ngọn lửa. Màu sắc biến mất, chỉ còn lại một nhúm tro tàn. Trong khoảnh khắc vô tận đó, anh ta chờ đợi những lời và phép màu. 

Paracelsus ngồi bất động. Ông nói bằng sự đơn giản kì lạ: 

“Tất cả những y sĩ và dược sĩ ở Basel đều nói ta là kẻ lừa đảo.  Có lẽ họ đúng. Đây là nhúm tro tàn của bông hồng, giờ nó sẽ không còn là bông hồng nữa.”

Chàng trai cảm thấy xấu hổ. Paracelsus là một kẻ lừa đảo, hoặc chỉ là kẻ mơ mộng, còn anh là kẻ xâm nhập, đã bước vào cửa của ông, buộc ông giờ đây phải thú nhận rằng những kĩ năng huyền thuật nổi tiếng của mình là giả dối.

Anh quỳ xuống trước mặt đại sư và nói:

“Những gì con đã làm là không thể tha thứ. Con thiếu đức tin, điều mà Chúa yêu cầu mọi tín đồ phải có. Vậy hãy để con tiếp tục thấy tro tàn. Con sẽ trở lại khi mạnh mẽ hơn để trở thành đồ đệ của thầy, và ở cuối Con Đường, con sẽ thấy bông hồng.”

Anh nói với lòng nhiệt thành, nhưng lòng nhiệt thành đó chẳng qua là lòng thương hại mà anh dành cho một đại sư già nua, người được tôn kính, bị phỉ báng, nổi tiếng, nhưng lại trống rỗng. Anh ta là ai, Johannes Grisebach, bằng bàn tay báng bổ, muốn tiết lộ rằng đằng sau chiếc mặt nạ kia không có ai cả?

Nếu bỏ lại những đồng tiền vàng sẽ chẳng khác gì hành vi bố thí. Vì vậy khi rời đi, anh lại nhặt chúng lên. Paracelsus tiễn anh đến chân cầu thang và nói rằng ngôi nhà này luôn chào đón anh. Cả hai đều biết rằng họ sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa.

Sau đó Paracelsus còn lại một mình. Trước khi tắt đèn và ngồi vào chiếc ghế bành mệt mỏi, ông đổ nắm tro mịn từ bàn tay này vào lòng bàn tay kia, ông thì thầm một lời duy nhất. Bông hồng lại xuất hiện.

*

Nguồn: "Collected Fictions by Jorge Luis Borges, translated by Andrew Hurley, Penguin Books, 1999; "The Rose of Paracelsus", từ trang 504 – 507

*Paracelsus (1493–1541), nhà luyện kim đan (alchemist), y sĩ, nhà triết học người Thụy Sĩ-Đức. Ông được biết đến với cuộc cách mạng hoá y học trong thời kì Phục hưng và được coi là cha đẻ của ngành hoá dược (iatrochemistry) và người sáng lập ra ngành y học hiện đại. Tên thật của ông là Von Hohenheim, nhưng ông thường được biết đến với tên gọi Paracelsus.



Chú thích:

[i] Trọng tâm phần đầu trong tiểu luận của De Quincey dường như đã truyền cảm hứng cho Borges viết “Bông hồng của Paracelsus”: “Sự kiêu ngạo của Paracelsus, rằng ông sẽ phục hồi bông hồng hoặc violet về với nguyên bản từ tro tàn sau khi đã bị cháy - điều này đã được cạnh tranh trong những thành tựu hiện đại” (Bản palimpsest của bộ não con người”, Những tiếng thở dài của vực thẳm). Phần đầu bài viết của De Quincey thảo luận về cách mà hoá học hiện đại có thể phục hồi những chữ viết đã bị xoá trên các cuộn giấy da hoặc da cừu, vì những cuộn da này khó có được và vì vậy đã được tái sử dụng”… “Hoá học, một phù thủy mạnh mẽ như Erictho Lucan, đã khai thác từ những cơn dằn vặt của mình, từ bụi và tro tàn của những thế kỉ bị lãng quên, những bí mật của một đời sống đã tắt ngúm đối với con mắt nhân gian, nhưng vẫn còn rực sáng trong than hồng .... Còn gì khác ngoài một palimpsest tự nhiên và mạnh mẽ là bộ não con người? ... Những lớp ý tưởng, hình ảnh, cảm xúc vĩnh cửu đã rơi xuống bộ não của bạn nhẹ nhàng như ánh sáng. Mỗi sự kế thừa dường như đã chôn vùi tất cả những gì đã xảy ra trước đó. Và thực tế, không một điều gì đã bị dập tắt.” Giá như chúng ta có thể thổi bùng những than hồng đó thành lửa một lần nữa. .. (Chú thích cùa dịch giả Andrew Huley)

[ii] nguyên văn: extracting the stone that turns all elements to gold: chiết xuất từ đá và biến mọi nguyên tố thành vàng (ND)

[iii] Tức Hòn đá triết gia (Lapis philosophorum/ Philosopher's Stone) - một loại vật chất tồn tại trong truyền thuyết hoặc huyền thoại, có thể ở dạng đá (rắn), bột hoặc lỏng. Nó được cho là có khả năng biến kim loại thường thành vàng, hoặc chế tạo ra thuốc trường sinh bất lão, hoặc chữa trị mọi bệnh tật. Khái niệm về “Viên đá triết gia” đề cập rộng rãi trong các tác phẩm kim đan thuật (alchemy) của phương Tây và cũng là một biểu tượng quan trọng cho sự tìm kiếm tri thức và sự chuyển hoá tinh thần. (ND)